Tác giả nhận định sâu sắc về sự hình thành và phát triển nền văn học, báo chí xứ Đàng Trong, giữa mối tương quan và khác biệt với Đàng Ngoài. Trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, các loại hình nghệ thuật dân gian đặc thù Nam Bộ đã ra đời, tiêu biểu là tuồng và cải lương.
Theo đó là tính biểu diễn, tính kể và đọc khác với văn hóa viết và đọc ở miền Bắc. Điển hình cho nền văn học đó ở thời kỳ đầu là Nguyễn Đình Chiểu với Lục Vân Tiên. Tác giả đã phân tích sức sống của Lục Vân Tiên trong đời sống tinh thần của người Nam Bộ chính là do cụ Đồ Chiểu đã bắt nhịp, nói đúng cái khẩu khí, cái tâm tình khoáng đạt và minh bạch của dân miền sông nước phía Nam. Lục Vân Tiên là loại văn để xướng đọc, chứ không hẳn để xem.
Tôi gặp ông vào một thời điểm mà ông có không ít trở ngại dù trước đó ông đã nổi tiếng trong văn học cũng như trong nghiên cứu. Nói rõ ra là có một số người trong giới, ở "thế thượng phong", không muốn nhìn nhận vị trí vốn có của ông. Thậm chí những công trình biên khảo giá trị như Phong trào Duy Tân, Chinh phụ diễn ngâm tân khúc đã có lúc người ta không muốn nhắc đến mà phải đợi 20 năm sau 1975 mới được tái bản.
Nhưng không vì thế mà ông sinh ra yếm thế, hoặc xu thời. Ông vẫn âm thầm làm việc với cái khí chất của một người Quảng Nam trực tính, bảo vệ đến cùng quan điểm của mình. Hơn thế, là bậc trí giả, ông hiểu chân lý khoa học thuộc về lịch sử vô hạn, chứ không thuộc về ý chí một quyền lực hữu hạn. Gần 30 năm qua ông viết hàng trăm bài báo, mỗi bài đều bộc lộ những ý tưởng mới lạ, lập luận sắc sảo và thuyết phục. Ông sở đắc nhiều lãnh vực: văn hóa, văn học, lịch sử... Lãnh vực nào cũng chứa đựng thông tin mới mẻ theo cách của ông.
Không chỉ vì có thời gian ông đứng trên bục giảng Đại học Văn khoa Huế, mà hơn thế, vì quý trọng ông, nên người đời cũng như nhiều nhà văn, nhà báo thường gọi ông bằng thầy - Thầy Xuân. Cái khác lạ là ông rất thích đánh bạn với lớp trẻ, sẵn sàng rong chơi bù khú với anh em , như một lão ngoan đồng ham vui và đôi khi hồn nhiên đến không ngờ. Tôi từng được theo ông những đêm khuya khoắt đây đó từ cái thuở rượu gạo quán cóc cho đến sau này. Những khi ấy ông gần gũi và vui vẻ vô cùng.
Hầu như mọi sinh hoạt văn hóa nghệ thuật, từ buổi giới thiệu tác phẩm, triển lãm ảnh, triển lãm mỹ thuật đến ra mắt tờ báo, hội họp văn nghệ... diễn ra ở Đà Nẵng đều mong muốn được ông đến dự, bởi không có ông thì buổi họp mặt mất đi một phần... khí thế. Cả những ngày cuối đời ông không đi lại được, anh em vẫn mong muốn ông có mặt. Có lẽ đó là niềm vinh hạnh, lòng tự hào. Ông trở thành một thương hiệu uy tín trong sinh hoạt văn nghệ.
Mà đến không phải để cắt băng khánh thành hay để khai mạc hội nghị, ông đến ngồi vào một chỗ như bao người khác, lơ đãng an nhiên và tự tại. Nhưng phải hiểu, cái chỗ ngồi đấy không phải ai ngồi vào cũng được, không ai có thể thay thế. Đơn giản đấy là chỗ ngồi của Thầy Xuân. Một chỗ ngồi giữa mọi người, đã từ lâu như vậy rồi. Và từ nay chỉ còn trong tâm tưởng của người ở lại.