Cha tôi - nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Thuận - là con cả trong một gia đình trí thức gốc Hoà Khánh, Đà Nẵng. Thuở nhỏ, ông theo học tại ngôi trường tiểu học duy nhất của Đà Nẵng thời đó là trường E'cole Des Garcons de Tourane (dân gian thường gọi trường "Con trai", nay là trường tiểu học Phù Đổng). Tại đây, ông gặp Phan Quang Định - người gốc Phong Thử, Điện Bàn.
Nhà cha tôi ở đường Sapie' la (nay là đường Ông Ích Khiêm), nhà bác Định ở chỗ nay là đường Ngô Gia Tự, chỉ cách nhau vài trăm mét. Bác Định rất tài hoa, "cầm, kỳ, thi, hoạ" đủ cả, tính tình lại hóm hỉnh, nói chuyện rất có duyên.
Còn cha tôi thì học giỏi môn văn. Năm cuối cùng tiểu học, cha tôi được ra Huế tham dự cuộc thi học sinh giỏi văn toàn miền Trung và đoạt giải Nhất, được vua Bảo Đại thết cơm. Ngay từ lúc còn đi học, cha tôi đã có thơ và truyện ngắn được đăng báo ở Hà Nội, Sài Gòn như truyện ngắn "Đồng hào ván mới" đăng trên tuần báo "Cậu ấm" năm 1934.
Cha tôi cũng thường sáng tác những vở kịch ngắn cho các đêm lửa trại của hướng đạo sinh. Bác Định là thủ lĩnh hướng đạo, đồng thời cũng là đạo diễn của những vở kịch học trò ấy. "Chu Du đại chiến Uất Trì" - vở kịch nổi tiếng nhất của cha tôi trước Cách mạng tháng Tám, đạo diễn cũng là bác Định. Cả hai thân nhau có lẽ vì đều chung một nỗi đam mê với văn chương, nghệ thuật.
Năm 1937, khi 16 tuổi, do nhà nghèo không đủ tiền học tiếp, cha tôi và bác Định rủ nhau vào Sài Gòn kiếm sống. Cùng với hai chàng trai xứ Quảng khác là Trần Văn Luân - sau này làm Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát TPHCM) và Võ Văn Hoàng, cha tôi cùng bác Định sống trong một căn gác trọ ở đường Lefèvbre (phía sau Ngân hàng nhà nước bây giờ).
Hai người bạn đã từng phải lăn lộn làm rất nhiều việc, trong đó lâu nhất là bán vé chiếu bóng. Nhưng nỗi say mê lớn nhất vẫn là làm thơ, viết kịch, vẽ tranh... Ngoài bổn phận gửi tiền về Đà Nẵng nuôi gia đình, cha tôi và bác Định còn lo luôn nuôi hai chú tôi là Lưu Quang Thành, Lưu Quang Luỹ (tức nhà thơ Lưu Trùng Dương sau này) theo vào Sài Gòn ăn học.
 |
| Phan Quang Định (phải) và Lưu Quang Thuận năm 1956. | Khi cách mạng Tháng Tám thành công, cha tôi sống ngoài Hà Nội. Năm 1946, ông tham gia sáng lập tạp chí Sân khấu và thành lập Nhà xuất bản Hoa Lư - một trong những nhà xuất bản tư nhân đầu tiên ở VN. Hoa Lư đã in nhiều tác phẩm của các văn nghệ sĩ cách mạng, như "Bắc Sơn" của Đỗ Nhuận, "Con cò" của Nguyễn Xuân Khoát, các nhạc phẩm của Lê Yên, các vở kịch thơ của Hoàng Cầm và của cha tôi như "Yêu Ly", "Quán Thăng Long"... Người trình bày, vẽ bìa cho tất cả các ấn phẩm của Hoa Lư lại cũng chính là hoạ sĩ Phan Quang Định.
Trong thời gian này, cha tôi gặp mẹ tôi - một người con gái Hà Nội gốc. Đám cưới được tổ chức ngày 2.11.1946, tại tụ sở UBND thành phố. Nhà thơ Lưu Trùng Dương kể lại, ngày cưới của cha tôi, bác Định dỗi, không đến dự. Ông chui vào kho giấy của nhà xuất bản Hoa Lư (tại 28 Bùi Bá Kỳ, nay là đường Cấm Chỉ) khoá chặt cửa nằm suốt một ngày một đêm. Ông buồn vì sợ mất một người bạn thân, mất vị trí "độc tôn" trong lòng cha tôi...
Sau đó ít lâu, theo lời Việt Minh kêu gọi thanh niên học sinh về quê tham gia kháng chiến, bác Định dắt theo chú Lưu Trùng Dương rời Hà Nội lên tàu về Đà Nẵng. Đó là một trong những chuyến tàu về nam cuối cùng trước ngày toàn quốc kháng chiến 19 tháng 12 năm 1946. Khi chia tay, cha tôi và bác Định giao hẹn với nhau: Khi nào Thuận có con trai sẽ đặt tên là Định, Định có con trai sẽ đặt lên là Thuận.
Cha mẹ tôi lên Việt Bắc, bác Định về khu Năm. Hơn ba ngàn ngày đất nước chìm trong lửa khói. Hoà bình lập lại, hai người bạn mừng mừng tủi tủi gặp lại nhau. Lúc này bác Định đã lập gia đình và có hai người con trai: Phan Hoài Thuận (SN 1949), Phan Hoài Lưu (1951). Còn cha tôi cũng sinh được 3 người con trai: Lưu Quang Vũ (1948), Lưu Quang Hiệp (1951), Lưu Quang Điền (1953). Không hiểu vì lý do gì, ông lại không lấy tên bạn đặt cho con như đã hẹn ?!
Năm 1958, cha mẹ tôi sinh người con thứ tư nhưng lại là con gái - chị Lưu Khánh Thơ. Mãi đến năm 1966, đứa con thứ năm là tôi mới ra đời và được đặt tên là Lưu Quang Định - đúng theo lời giao hẹn giữa hai người bạn tròn 20 năm trước.
Ngày nhỏ, tôi nhớ không tuần nào bác Định không một vài lần đến chơi nhà chúng tôi ở 96 Phố Huế. Cha cũng thường xuyên đưa tôi đến nhà bác Định ở khu tập thể 21 phố Lò Đúc, nơi có những hàng cây cơm nguội cổ kính bậc nhất ở Hà Nội. Hai anh Lưu và Thuận thời gian này đều đã lớn, chủ yếu học nội trú trên trường Trỗi (trường cho con em miền Nam tập kết) nên ở nhà nhiều lúc chỉ có hai vợ chồng bác.
Bác Định rất yêu tôi. Bác chơi với tôi hàng giờ, cho tôi ngồi cả lên vai đi nhong nhong quanh nhà. Lúc này bác đã trở thành một đạo diễn điện ảnh, làm việc ở Xưởng phim Quân đội. Bác thường gọi tôi là thằng "đạo diễn con", với mong muốn sau này lớn lên tôi sẽ theo nghề của bác.
Cha tôi mất ngày 21.2.1981, đúng sinh nhật của tôi. Hôm đó là tối thứ bảy, cả nhà tôi làm một bữa liên hoan bún chả. Tất nhiên, bác Định cũng đến, mang theo một cái bánh gatô nhỏ. Ăn xong cha mẹ tôi đi bộ đến Nhà hát Lớn xem vở kịch "Người đốt đền" do Nhà hát kịch Trung ương dựng. Khi nhạc nổi lên thì cha tôi từ từ gục xuống vì một cơn đột quỵ...
Ông mất ngay trong nhà hát, bên cạnh người bạn đời yêu thương, sau khi ăn bữa cơm cuối cùng cùng với gia đình và người bạn tri kỷ nhất của mình. 8 năm sau, tháng 4.1989, đến lượt bác Định ra đi. Ông mất trong khi đang đi làm phim tại huyện Giằng, cũng sau một cơn đau tim đột ngột. Người ta đưa ông về Đà Nẵng trên một chiếc xe com măng ca phủ đầy bụi đỏ, thi thể ông được bọc trong một chiếc chăn chiên bộ đội đơn sơ... "Sinh ư nghệ, tử ư nghệ", cả cha tôi và bác Định đều hiến trọn trái tim và cuộc đời mình cho nghệ thuật.
Năm 1948, trong một buổi sớm Việt Bắc mù sương, nhìn về phương nam quê hương xa xôi ngàn dặm, cha tôi đã viết bài thơ Quà kháng chiến với lời đề tựa "Gửi Phan Quang Định". Bài thơ tràn đầy những câu da diết nhớ thương: Không nắm được tờ thư ghi bóng dáng/ Không bắt được tin, không đón được lời/Không nói được lòng ta thương mến bạn/ Không chép được tình không nhắn được nơi/... Muốn gửi cho nhau chút quà kháng chiến/ Lấy chi đây sông núi cắt từng khu/ Mùa gió rạt sóng gầm trên bãi biển/ Khu Năm ơi Việt Bắc có sương mù...
Nếu như ai đó đã nói sự giàu có của cuộc đời ta chính là những người bạn ta có, thì cha tôi và bác Định thực sự là những người rất giàu có vì họ đã có một tình bạn bền chặt, sâu sắc trong suốt cuộc đời. Năm mới xuân về, xin được viết những dòng này như một nén nhang kính dâng lên hương hồn cha tôi và bác Định, kính dâng Tình bạn của hai người.
|
Nhà thơ - nhà viết kịch Lưu Quang Thuận sinh 14.7.1921 tại Đà Nẵng. Là tác giả của khoảng 40 tác phẩm sân khấu như Yêu Ly, Lê Lai đổi áo, Nữ hoàng Ba Tư, Quán Thăng Long, Tấm Cám, Mối tình Điện Biên, Nàng Sita... các tập thơ Tóc thơm, Việt Nam yêu dấu, Lời thân ái, Mừng đất nước, Cám ơn thời gian... Mất 21.2.1981. Được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2000.
Đạo diễn điện ảnh - đại tá Phan Quang Định sinh 11.2.1922 tại Đà Nẵng. Tác giả của ca cảnh Sơn Tinh Thuỷ tinh, các ca khúc Có một đàn chim (nhạc Phan Huỳnh Điểu), Chiến thắng sông Lô (nhạc Dương Minh Ninh), Chiều trên sông Mã, Đất Lào yêu thương... Đạo diễn các bộ phim tài liệu Muôn vàn lời yêu thương, Hà Nội bản hùng ca (giải Bông Sen vàng)... Mất 1.4.1989. Được trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú năm 1990. |
Lưu Quang Định
|