Không nhiều thủ đô trên thế giới có được một thắng cảnh như hồ Gươm và viết về hồ Gươm thì không biết đến đâu là hết! Nếu Ba Đình là chứng nhân cho các biến cố chính trị của đất nước hơn bảy mươi năm vừa qua, thì Bờ Hồ là chứng nhân cho sự lên xuống, trồi sụt của bao thân phận người hàng chục thế kỷ.
Giữa lòng một thành phố chật chội và náo nhiệt, sát gần khu phố cổ, là một mặt nước tĩnh lặng trong vòng tay cổ thụ xanh ngắt bốn mùa. Ta để lại sau lưng mình bụi bặm và bao nỗi lo âu cực nhọc trần thế. Trong giây phút ta bỗng có nước, có rừng, tâm hồn ta chùng lại, ngỡ ngàng như vừa bước vào thế giới của những giấc mơ.
Ta sững người vì mặt nước xanh ngắt màu lục gọi ta về với dĩ vãng ngay giữa lúc ta đang vật lộn với hiện tại nhọc nhằn. Đó là mỹ cảm hồ Gươm! Một nhà thơ Hy Lạp với tâm hồn nhạy cảm của mình, mới gặp hồ Gươm lần đầu đã nhận ra cái "lẵng hoa giữa lòng thành phố – mà sông Hồng là dải lụa bao quanh".
Không hẹn mà nên, Bờ Hồ thành "ly đình xứ sở", nơi gặp nhau có thể là lần cuối của những cuộc chia ly do lịch sử mà không ai được lựa chọn.
Lịch sử của một xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã. Một đất nước mà đến ngựa đá cũng đổ mồ hôi (không chỉ hai lần đâu) vì sự tồn vong của non sông thì kinh đô sá chi một đống tro tàn. Nhưng Thăng Long không chỉ bị chiến tranh tàn phá. Sau sự sụp đổ của một vương triều là tiếp đến cuộc trả thù lên tường vôi mái ngói của triều vua nối theo. Những cuộc xâu xé, tranh giành quyền lực cũng thừa sức biến lâu đài dinh thự thành gạch vụn.
Cái "thiên niên cự thất thành quan đạo" trong thơ Nguyễn Du, cái hý trường mà Bà Huyện Thanh Quan không tiện vạch mặt chỉ tên ấy là những đòn trả hận của các triều đại phong kiến thiển cận kém bao dung văn hoá. Hồ Gươm cùng sống chung số phận ấy với thủ đô ngàn năm.
Kể từ ngày được gắn liền với truyền thuyết trả gươm của Lê Thái Tổ và sau đó được minh quân trọng văn hoá là Lê Thánh Tông vun đắp, chăm chút, sau hàng trăm năm, hồ Gươm trở nên đệ nhất danh thắng của kinh kỳ. Trải mấy đời chúa Trịnh, quanh hồ san sát biệt điện, ly cung, lâu đài dinh thự của các ông hoàng bà chúa chen lẫn cùng đền chùa, miếu mạo và nhà ở của thị dân.
Nhưng Vua Chiêu Thống – một ông vua hèn đớn mà thần dân thời đó cho rằng "chưa có vua nước Nam nào hèn hạ như thế" (Hoàng Lê nhất thống chí) – đã dựa hơi Tôn Sĩ Nghị đốt phá thành bình địa. Những lối xưa xe ngựa hồn thu thảo và nền cũ lâu đài bóng tịch dương làm chúng ta tiếc nuối tận hôm nay được viết về những cuộc rửa hận này chăng ? Sau đó, dưới triều Nguyễn, hồ được sửa sang do công quả đóng góp của những nhà hảo tâm và nho sĩ đương thời, đặc biệt là danh sĩ Nguyễn Văn Siêu.
Nhà văn lỗi lạc được đánh giá là có thể làm mờ văn chương thời Tiền Hán này đã dụng công thiết kế quần thể kiến trúc đền Ngọc Sơn với dáng dấp ngày nay và chính ông là người đã viết câu thơ mô tả mặt hồ Gươm như chén rượu ngọc sáng lung linh mây trời Hà Nội, dạng nguyên thuỷ của câu ca từ trong một bài hát nổi tiếng về Hà Nội hôm nay. Hồ Gươm lại một lần được phả hồn dân tộc với quần thể kiến trúc đầy chất thơ, lại là nơi danh thắng kinh thành.
Nhưng quân Pháp hai lần đánh phá Hà Nội. 16.500 quân sĩ Pháp lập trại bên bờ sông và ven hồ vào khoảng 1887. Một viên sĩ quan Pháp mô tả Bờ Hồ thời đó: "Buổi sáng, đi chơi phố quanh hồ Gươm thấy bên những chiếc cầu bắc cạnh nhà, người ta rửa ráy, giặt giũ. Những người gánh sọt đi nhặt phân dọc đường, có những người đi nhặt giẻ rách, xương trâu bò… Trong những quán cơm nhỏ và quán nước chè xanh cạnh đường cái, chen chúc đám cu ly và dân nghèo ăn uống…" (Claude Bourin trong "Xứ Bắc Kỳ cổ", do Nguyễn Văn Uẩn trích).
Hồ Gươm đẹp và thiêng, tuy lịch sử thường ít chọn những cảnh nên thơ để lưu hậu thế. Nhưng lịch sử cận đại phải có một trang đặc biệt về Bờ Hồ những năm từ 54 đến 60 khi hai miền chưa đoàn tụ. Thời đó hồ Gươm, với một kiểu gọi rất Hà Nội là Bờ Hồ – đã đột nhiên trở nên náo nhiệt lạ thường vào đêm giao thừa Tết âm lịch và tất cả những chiều thứ bảy, cả ngày chủ nhật.
Đầu tiên là những người di cư 1954. Không ai bảo ai, những ai tìm đường xuống khu vực 300 ngày ở Hải Phòng đều ghé qua Hà Nội, lúc đó vừa mới giải phóng. Gia đình, bạn bè, thầy trò ly tán đều hy vọng tìm thấy nhau bên bờ hồ Gươm. Không hẹn mà nên, Bờ Hồ thành "ly đình xứ sở", nơi gặp nhau có thể là lần cuối của những cuộc chia ly do lịch sử mà không ai được lựa chọn.
Đợt sóng xao động Bờ Hồ trước ngày thủ đô được giải phóng chỉ nhộn nhịp ba – bốn tháng sau Hiệp định Genève, lại cồn lên những cơn bão lòng sau ngày một số đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc. Giữa hai miền một con én cũng không bay lọt. Lên tàu từ Cà Mâu, từ Quy Nhơn và nhiều nơi khác, đồng bào miền Nam ra Bắc là ly tán mỗi người một nơi trên khắp miền Bắc.
Thư từ, điện thoại hồi đó còn là chuyện xa xỉ, tìm nhau, thăm hỏi, kiếm tin tức của các thành viên gia đình ly tán trong Nam ngoài Bắc rất khó khăn. Chỉ có một cơ hội khả thi nhất là về Hà Nội, chiều thứ bảy và trọn ngày chủ nhật để nuôi hy vọng tìm thấy nhau, nhặt được chút tin nhà.
Bà con miền Nam lũ lượt dạo quanh Bờ Hồ không phải một lần mà nhiều khi cả ngày, vừa đi vừa mút kem hay hút thuốc lá rê, may ra có cơ hội gặp được người quen. Phương tiện gặp gỡ này tự nhiên mà có, nó ra đời do tình cảm gia tộc quê hương sâu nặng trong lòng mỗi người Việt, lâu ngày biến thành một phiên chợ tình cảm quanh hồ Gươm.

Nếu bạn từng dạo Bờ Hồ những ngày chủ nhật đó chắc không thể quên những tiếng gọi, những vòng tay ôm, những giọt nước mắt bên Bờ Hồ, giữa những người miền Nam vốn cởi mở và giàu tình cảm. Đã có những chuyện xảy ra quanh Bờ Hồ như chỉ trong tiểu thuyết mới có. Một thanh niên Hà Nội lên tàu Nam tiến cuối năm 1945, mãi đến 10 năm sau mới cùng đơn vị tập kết ra Bắc.
Tìm về nhà cũ thì không còn dấu vết. Nơi chôn nhau cắt rốn của anh nay đã là chỗ ở của mấy gia đình hồi cư. Không một mẩu tin, không một dòng địa chỉ. Anh lại đóng quân ở Sơn Tây nên chỉ tranh thủ mỗi tuần về Hà Nội một lần và cũng chỉ làm một việc duy nhất là dạo quanh Bờ Hồ hết vòng này đến vòng khác như quân đèn cù.
Thế rồi trời cũng có mắt. Anh đã gặp được mẹ già, bà cụ nghe người ta mách bảo cũng chống gậy dạo Bờ Hồ để may ra gặp được con trai. Không ít những cặp yêu nhau, bố con, mẹ con hay chị em, láng giềng không tập kết một lần mà đợt trước đợt sau. Họ "thất lạc" trong lòng miền Bắc rộng lớn đang bề bộn trăm công ngàn việc sau mười năm chiến tranh… Lần nữa, Bờ Hồ lại là nhân chứng của một trang lịch sử đau nỗi buồn chia cắt của dân tộc.
Người Hà Nội hay bất cứ ai, kể cả người nước ngoài từng sống một thời gian ở Hà Nội có lẽ khó quên những đêm giao thừa bên Bờ Hồ. Mỗi người Việt chỉ được "ăn" dăm bảy chục cái tết ở đâu đó trên trái đất, xin bạn hãy dành cho Bờ Hồ một đêm giao thừa. Bởi vì, quên sao được cái không khí lạnh giá có ít mưa phùn, loại mưa nghe nói chỉ có ở Bắc Bộ Việt Nam nên người Pháp mới có danh từ để gọi đó là le crachin Tonkinois (mưa bụi Bắc Kỳ), mưa mà như không mưa.
Ta đi dạo quanh Bờ Hồ để đón giao thừa, một vòng, hai vòng và đến lúc nào đó bất chợt ta thấy tóc tai, quần áo và tay chân ướt đẫm.
Cả một ngày ba mươi, Bờ Hồ vắng hẳn người, có thể gọi là vắng ngắt. Bởi vòng quanh Bờ Hồ hay các phố khác, du khách vãng lai ít đến trong dịp Tết, còn người Hà Nội thì ai cũng phải ở nhà để lo cúng chiều ba mươi. Quanh hồ chỉ còn lại những panô, ápphích được dựng lên chào đón Tết Nguyên đán, thợ chụp ảnh đang ế khách mà vẫn chưa "chạy" xong cái tết và mấy đứa trẻ không nhà với vẻ mặt buồn thiu.
Thế nhưng, như một cơn mưa được dồn nén, ấp ủ trong mây bỗng vỡ oà. Từ chín giờ đêm trở về khuya, mọi con đường đều dẫn tới Bờ Hồ. Thiên hạ – phần lớn là nam thanh nữ tú Hà Nội – ngồi trên xe máy đổ về hồ Gươm. Nói là họ đi xe máy, nhưng đêm đó không ai được đưa xe vào Bờ Hồ mà phải để xe cách hai ba cây số (xa vậy mà vẫn khó tìm được chỗ gửi xe) rồi lũ lượt đi bộ về. Trong chu vi khoảng hai cây số quanh hồ, như từ đất chui lên, hàng trăm ngàn người, trai thanh gái lịch về Bờ Hồ đi dạo, chờ xem bắn pháo hoa và hái lộc.
Người và người. Bờ Hồ chỉ còn đèn và sóng người nhấp nhô. Người ta chen vai thích cánh, biết không để làm gì, không có gì để xem (mà cũng chẳng ai có tâm trạng xem), không có gì để mua vì sắm tết thì xong từ chiều ba mươi rồi, cũng không có gì để ăn, để uống vì không ai có thể bán cái gì cho đám đông "như nêm cối" ấy. Người ta chăm chăm đến trước để xem pháo hoa, để hái lộc. Đúng là thế. Nhưng còn hơn thế. Dạo Bờ Hồ đêm giao thừa đã trở thành một nhu cầu của tâm thức, nó hình thành không chỉ trong lớp già mà lạ lùng hơn là đậm hơn trong lớp trẻ.
Để rồi, sau trận pháo hoa, sau hàng giờ mệt mỏi đi dạo, người ta lại lũ lượt kéo nhau về nhà xông đất cho… chính mình. Ngày xưa xông đất là tuỳ may rủi. Ngày nay, không ai tin ai, tốt nhất là xông đất cho chính nhà mình. Đó là một trong những nét mới của thời đại mới. Có thể sau đó, vào quãng hai ba giờ sáng, khi Hà Nội và Bờ Hồ biến thành "bất dạ" (không có ban đêm), những cuộc đua xe máy kinh hoàng của những "sát thủ đường phố". Từng cặp ôm eo nhau ngồi trên những chiếc xe phân khối lớn phóng với tốc độ tối đa…
Bờ Hồ hôm nay là thế. Nó cũng đang làm chứng cho một thời kỳ đặc biệt trong lịch sử. Không biết cái lệ đón giao thừa quanh Bờ Hồ có từ lúc nào. Vũ Bằng đã từng mô tả đêm giao thừa ở Bờ Hồ trước ngày ông vào Nam trong "Thương nhớ mười hai": "Lát nữa, cúng kiếng trời đất tổ tiên xong rồi, người vợ thoa tý phấn, điểm một giọt hồng lên má rồi bận cái áo nhung màu hoa sim, cùng chồng và con cái mở cửa đi ra đền Ngọc Sơn, rẽ sang đình Hàng Trống, đi lên hồ Tây, vào đền Quán Thánh lễ giao thừa, rồi người thì cầm cành lộc, người cầm hương lộc, đi thong thả về nhà, sự mê ly còn gấp trăm ngàn lần nữa".
Như vậy là, so với thời nhà văn Vũ Bằng, người Hà Nội đi giao thừa trong phạm vi hẹp hơn, chỉ loanh quanh Bờ Hồ chứ ít người sang đền Hàng Trống hay lên Quán Thánh.
Cũng phải thôi, thời nào thế ấy!