Ngày 21.7.2007, anh đã thực hiện chuyến đi cuối cùng vào cõi vĩnh hằng – lúc 76 tuổi.
Bên cạnh chữ ký phóng khoáng, hoạ sĩ Lưu Công Nhân thỉnh thoảng đóng mộc son vào tranh của mình, không phải là tên- hiệu viết lối chữ triện, mà là hình con nhái, đúng hơn là nhái bén. Đó cũng là bút danh tếu của hoạ sĩ Lưu Công Nhân, người nghiêm túc mà lại thích đùa. "Nhái này không liên quan gì "nhái tranh", "tranh nhái" đâu nhé. Trong truyện cổ Việt Nam, nhái là hiện thân một người tu hành nhưng không thành chánh quả, mình cũng vậy, chỉ là Nhái thôi!" – anh nói vui.
"Nhái là hiện thân một người tu hành nhưng không thành chánh quả, mình cũng vậy, chỉ là Nhái thôi!" – anh nói vui.
Từ hồi được hoạ sĩ Lưu Công Nhân nhận là bạn vong niên, nhớ là vào khoảng năm 1984, năm nào vào độ này tôi cũng nhận được thư-thiếp-tranh-Tết-xuân của anh. Mấy dòng thư bàn thảo về một chuyến đi vẽ sắp tới, đôi lời chúc Tết mừng xuân, vẽ vài nét chấm phá ngẫu hứng ngang tàng phồn thực, thường là đàn bà khoả thân, chữ và tranh quyện lấy nhau như vô tình nhưng thật ra có bố cục và tất cả làm nên một thiếp chúc Tết rất Nhái. Năm nay tất nhiên là không có thiếp của Nhái rồi. Ngày 21.7.2007, anh đã thực hiện chuyến đi cuối cùng vào cõi vĩnh hằng – lúc 76 tuổi.
Hoạ sĩ Lưu Công Nhân vẽ suốt đời, vẽ hàng nghìn bức tranh, và bộ sưu tập tranh gần như vẫn nguyên vẹn ở gia đình anh, ở VN, bởi anh chủ ý không bán tranh, nhất là bán tranh ra nước ngoài. Nhưng vẫn có nhiều người hiện sở hữu tranh Lưu Công Nhân. Có thể họ mua được từ anh, số này không bao nhiêu, hoặc mua thông qua các tổ chức từ thiện. Anh từng chuyển khá nhiều tranh cho các tổ chức từ thiện bán ra để lấy tiền giúp người khốn khó, bệnh tật.
 |
| Nhái tự hoạ | Sau khi đọc phóng sự "Ốc đảo Hansen" của tôi viết về bệnh nhân ở trại phong Hoà Vân, thành phố Đà Nẵng, hoạ sĩ Lưu Công Nhân nhờ Báo Lao Động tổ chức bán hơn mười bức tranh, toàn bộ tiền bán tranh dành giúp đỡ trại phong này. Hoặc có tranh của anh là do anh yêu mến mà tặng, thường là người trong giới văn nghệ, trí thức. Số này tôi nghĩ cũng không nhiều.
Cách đây 5 năm, anh từ Đà Lạt ra Đà Nẵng và Quảng Nam, bệnh parkinson lúc ấy đã vào kỳ nghiêm trọng. Đó là chuyến đi vẽ cuối cùng của anh ở vùng đất gắn bó này. Dịp này, có hai vị trung niên trí thức tình nguyện làm "đoàn tuỳ tùng" cho anh, ôtô đưa đón, cơm bưng nước rót cả ngày, thế nhưng khi họ xin một bức phác thảo thôi, anh cũng lắc đầu: "Đã tặng thì phải tặng tranh đẹp. Nhưng lúc này tôi thấy không có cảm xúc gì, lý do gì để tặng các cậu tranh của tôi cả!".
Anh em vừa đau vừa nể, chỉ còn biết cười trừ. Bởi vậy, họ đã hỏi tôi nhờ đâu mà hoạ sĩ Lưu Công Nhân thường cho tranh, đến nhà vẽ chân dung cho các thành viên trong gia đình tôi. Đó là chuyện tôi muốn kể lúc này, khi anh đã ở cõi phiêu diêu tự tại, còn chúng ta cũng đang sống trong bầu không khí văn nghệ thoáng mở hơn nhiều so với những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước.
Thuở sơ ngộ, không phải tranh, mà chính con người phóng khoáng Lưu Công Nhân và những ý tưởng mới mẻ, cũng không thuộc lĩnh vực sáng tác, mà là ý tưởng về "con người Việt Nam, nước Việt Nam đang ở đâu và sẽ ở đâu trên thế giới này" của Lưu Công Nhân mới là sức hút đối với tôi. Mùa thu năm 1985, một lần anh nhờ tôi đèo Honda từ Hội An, nơi anh lưu trú đã hơn 3 tháng để vẽ, ra Bưu điện Đà Nẵng nhận bưu phẩm từ nước ngoài gửi về. Anh mở ra trước mắt tôi, toàn sơn dầu. Một tuần sau, ở sân bay Đà Nẵng, anh trao tôi một phong thư trước khi về nhà ở Sài Gòn: "Nghĩ mãi, không biết có nên gửi "ông" đọc không…". Tôi đồ rằng một bài viết của anh hay của ai đó, đút túi.
Về toà soạn Tạp chí Văn nghệ Đất Quảng, cơ quan tôi làm việc hồi ấy, ngồi vào bàn viết, tôi bóc thư. Đúng thế, một sáng tác, thể tuỳ bút. Nhưng hoàn toàn không bình thường. Trên mẩu báo ố vàng, vầy vò nhăn nhúm là tuỳ bút của một nhà văn hải ngoại, một tác giả tản văn lừng lẫy của làng văn miền Nam trước 1975 mà tôi từng tìm đọc, người đã cố rời bỏ tổ quốc ra đi sống lưu vong. Tuỳ bút được in trên một tờ báo tiếng Việt nào đó ở Mỹ, sắc-huyền-hỏi-ngã-nặng thời ấy còn phải "gia công" bằng tay. Hồi lâu tôi mới nhận ra đó là mẩu báo rời đã được ai đó dùng để gói lót mấy tuýp sơn dầu, nhưng lúc mở bưu phẩm, anh Lưu Công Nhân và tôi đều "bỏ qua", không nhận biết.
 |
| "Nhái" - dấu mộc của HS Lưu Công Nhân | Tản văn ông vẫn là bậc thầy. Tuỳ bút đặt vấn đề cốt tử của văn nghệ muôn thuở: Nguồn mạch sáng tạo và bản sắc. Chuyện bắt nguồn từ một người bạn trong đời thực của tác giả. Một hoạ sĩ ở Sài Gòn được tiếng "mát tay", có nhiều du khách nước ngoài và quân nhân Mỹ tìm mua tranh của ông. Năm 1980 hoạ sĩ vượt biên. Trong thời gian ở đảo Guam chờ thủ tục nhập cảnh, hoạ sĩ tiếp tục vẽ. Nhiều quân nhân Mỹ đóng trên đảo "đặt hàng" ông vẽ, chủ yếu phong cảnh Guam.
Vào Mỹ, hoạ sĩ dùng số vàng dành dụm ở Việt Nam và tiền bán tranh ở Guam mở gallery. "Vắng như chùa Bà Đanh". Một hôm, có khách là người từng mua tranh ông ở Việt Nam đến thăm, ông dò hỏi vì sao bây giờ người Mỹ không còn quan tâm đến tranh ông nữa. Ông bạn cựu chiến binh Mỹ giãi bày: Trong thời gian tham chiến ở Việt Nam, nhất là vào thời điểm sắp được về nhà, người lính Mỹ nào cũng muốn có một souvenir bản xứ đánh dấu thời kỳ đáng nhớ trong đời mình, tranh là souvenir thích hợp nhất, đặc biệt tranh về con người, phong cảnh Việt Nam.
Thời bình, tranh vẫn là souvenir cao cấp đối với người du lịch. Hai bức tranh của ông, tôi đang treo ở phòng khách và phòng làm việc. Tôi thường nhìn ngắm nó để tôi thấy lại tôi một thời chiến binh, thấy cả đồng đội, và chiêm nghiệm về chiến tranh… Bây giờ ông đã ở trên đất Mỹ, cũng là công dân Mỹ như chúng tôi, tranh ông không còn cộng thêm yếu tố souvenir nữa. Tất nhiên không chỉ người Mỹ mà cả thế giới sẽ mua tranh ông, nếu họ nhận ra tranh ông là tác phẩm nghệ thuật, là ouevre, là không biên giới!
Qua câu chuyện, nhà văn "lưu vong" này than: Trên đất người, tranh là ngôn ngữ "không biên giới" mà còn đầy thách thức như vậy, huống hồ văn chương tiếng Việt với rào cản ngôn ngữ? Và ông chỉ ra một thực tế quan trọng đối với văn nghệ: Nếu Rabindranath Tagore làm thơ ở Mỹ, chưa chắc đã được người Mỹ chào đón. Nếu Yasunari Kawabata viết văn ở Mỹ cũng thế.
Hãy sáng tác từ nguồn mạch quê xứ mình, hãy nổi danh ngay trên đất nước mình, khi ấy người ngoài sẽ thừa nhận mình như một nghệ sĩ không biên giới. Đang lúc trực toà soạn (một tạp chí văn nghệ), tôi hưng phấn cho đánh máy bài tuỳ bút của nhà văn này, đích thân viết chapeau giới thiệu ông là ai, ở đâu, và cho rằng dù ông từng quay lưng lại với tổ quốc, nhưng bài viết này của ông đáng để giới văn sĩ đọc và suy gẫm về nguồn mạch quê hương trong sáng tác.
Tôi trình duyệt tổng biên tập. Không biết sếp tổng có đọc không, đọc như thế nào, nhưng ra lệnh miệng ngay sau đó: In!
Tạp chí xuất bản, bài viết của nhà văn lưu vong như "trái bom" nổ làm choáng giới văn nghệ và quản lý văn nghệ. Tôi phải trả lời người có trách nhiệm về việc sử dụng bài của một nhà văn hải ngoại này. Đáp: "Tôi in vì tin rằng đọc xong tuỳ bút ấy, văn nghệ sĩ càng thấy hạnh phúc khi được sáng tác trên đất nước mình, thực ra nhận thức ấy không có gì mới, nhưng trong giai đoạn này, chính ông ta sống và viết bên Mỹ nói mới "thiêng".
Hỏi: "Được. Nhưng ông ta gửi bài cho anh bằng cách nào?". Đáp: "Không gửi, không nhận, không quan hệ, không liên lạc, tự nhiên… có thôi!". Tất nhiên là tôi "lên bờ xuống ruộng" với chuyện "tự nhiên có". Mấy ngày sau, đang căng thẳng, bỗng người có trách nhiệm gọi điện huỷ cuộc làm việc tiếp theo như đã hẹn, giọng ông nhẹ hẳn: "Sao không nói ngay là hoạ sĩ Lưu Công Nhân đưa bài báo của nhà văn hải ngoại cho anh?".
Thì ra nhà văn Phan Tứ đi Sài Gòn, mang biếu hoạ sĩ Lưu Công Nhân tạp chí số mới, bảo có bài đáng đọc lắm, nhưng rắc rối là Vĩnh Quyền nó không nói được đã lấy bản thảo ở đâu ra. Lưu Công Nhân mở ra xem, cười ha hả. Và cả hai "đại ca" đã thu xếp việc "giải hạn" cho tôi. Sáu tháng sau, tôi đón Lưu Công Nhân ở sân bay Đà Nẵng. Câu đầu tiên của anh: "Chơi được đấy!".
Suốt 23 năm giao tiếp, tôi thấy hoạ sĩ Lưu Công Nhân vẫn nghĩ ngợi về "chỗ đứng", không cho riêng bản thân nghệ sĩ, mà cho cả Việt Nam trên trường quốc tế. Đôi khi, tôi muốn nói với anh rằng, riêng trong thế giới hội hoạ, cuộc đời chỉ biết vẽ và vẽ của anh, có thể gọi "thành chánh quả", không chỉ là Nhái đâu, nhưng lại cẩn trọng, lại kiệm lời. Giờ thì muộn rồi.
Vĩnh Quyền
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Tâm thế việt
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Văn hóa
Người Huế, sống ở Huế, nhưng lâu lâu tôi lại phải "nhờ" một cô bạn tận Hà Nội nhắn tin, "chửi" cho mấy câu bằng "giọng" Huế cho đỡ nhớ!
»»
|
|
Truyện khác
|
|
|