Những đoá anh đào rực rỡ như những nụ cười thiếu nữ giữa ngày đông rét mướt miền Trung đã làm tan biến trong tôi những nỗi ưu tư vẫn day dứt tâm can mỗi ngày. Bất chợt tôi nhìn thấy bóng tôi bên kia cửa kính với một nụ cười ngẩn ngơ của mình, đúng hơn là của bosnggã lãng tử 15 năm trước lạc chân đến xứ đào hoa Đà Lạt.
Tôi đến Đà Lạt lần đầu vào lúc mờ sáng. Chiếc xe đò rì rầm chạy trong bóng tối mờ ảo. Tôi nhìn ra cửa sổ và thấy vô số những bóng người đang đứng lặng lẽ trong bóng đêm giữa những ngọn gió lạnh hun hút thổi. Đó chính là rừng thông ở đèo Prenn - cửa ngõ vào thành phố, mà sau này khi chia tay Đà Lạt, vẫn những bóng người ấy tiễn biệt tôi bằng một cái nhìn lặng trầm. Tôi hình dung thông như là những lãng tử và anh đào là mỹ nhân, hai loại người luôn làm đẹp cho Đà Lạt. Riêng với người đẹp anh đào, tôi có quá nhiều kỷ niệm da diết ngay từ cái tết xa nhà đầu tiên.
Sau khi "dự án" quán cơm sinh viên phá sản, thằng bạn "bụi đời" tên Phú gốc Huế nhà ở ấp Đa Thiện rủ tôi đi bán hoa. Hoa gì? Mai anh đào! Loài hoa mà du khách thường gọi là anh đào được người Đà Lạt đặt cho cái tên mai anh đào vì bông giống hoa mai (Cerasus) dáng cây giống đào (Prunus), ghép lại là Prunus Cerasoides. Loài hoa thân mộc ấy không họ hàng gì với sakura Nhật Bản, mà xuất thân từ trong rừng sâu của cao nguyên Lâm Viên, và một kẻ lãng mạn nào đó, hình như là người Pháp thì phải, đã mang nó về trồng trên đường phố. Bông hoa có hình tựa hoa mai nhỏ xíu, nhưng không thể cắt thành cành để chưng trên bàn như mai vàng hoặc đào bắc. Hoa chỉ đẹp khi nở trên tán cây hoặc hợp thành rừng. Một rừng mai anh đào hồng rực trên nền trời xanh - mây trắng - nắng vàng của mùa đông Đà Lạt mới chính là lúc anh đào Đà Lạt phô hết vẻ đẹp của mình.
Vậy mà có kẻ đã đem mai anh đào đi bán! Ngày 22 tháng chạp, chúng tôi cất một "gánh hàng hoa" xuống tận Sài Gòn, bày ở Công viên 23-8, trên đường đi vào chợ hoa Nguyễn Huệ. Người qua đường dừng lại ngắm: Hoa gì lạ "zậy" ta? Nhưng chẳng ai chịu mua cho một cành. Hai ngày sau, anh xe thồ ba - gác đến hỏi có tiền trả (công chở từ bến xe miền Đông về) chưa? Ba ngày sau, anh xe ôm ở ngã tư cạnh đó vào hỏi: "Sao không thấy ai mua hoa cả, tụi mày có tiền ăn cơm không?", và rút gói thuốc Đà Lạt chia cho mấy điếu. Năm ngày sau, có một người đàn ông đang chạy xe, bỗng vòng lại: "Ô, anh đào Đà Lạt, hay quá ta !". Và ông ngắm nghía những bông hoa nở lạc lõng giữa phố xá đông đúc. "Cành lớn này chắc nhiều tiền lắm, thôi bán cho tôi cành vừa vừa này". "Nếu anh thích thì xin tặng anh cành lớn đó", tôi nói rất thật và người đàn ông trố mắt.
Ông ta không hiểu một điều đơn giản rằng: sau 5 ngày chờ đợi mòn mỏi, tôi và thằng bạn bụi đời đã quyết định tặng hết vạt hoa này cho bất cứ ai thật sự yêu thích nó. Và đêm 28 tết, tôi đã quyết định tặng hết cho những anh xe ôm, cho quán cơm bình dân ở công viên có ông chồng nghiện xì ke quê gốc thôn Vĩ Dạ, cho cả một ngân hàng gần đó hình như tên là Đại Nam thì phải. Và chỉ duy nhất người đàn ông thôn Vĩ Dạ tặng lại cho chúng tôi 30 ngàn đồng. Số tiền đủ cho chúng tôi làm một bữa tất niên trong công viên nổi tiếng "xì ke đĩ điếm" ấy, với những người bạn sinh viên trường sân khấu ở đường Cống Quỳnh. Bữa nhậu tất niên còn có mấy đứa nhỏ bụi đời thường trú ở công viên, trong đó có một đứa tên Tấn, không biết được mình bao nhiêu tuổi, sau ba ly đế thì tự khai rằng "Chính em lấy cái túi xách của anh, nhưng mà chỉ bán được cái túi xách thôi, bên trong chẳng có gì để bán". Cả bọn được một bữa cười hả hê.
Tôi rót một ly cho Tấn: "Anh xin lỗi mày, vì có ai mua hoa của anh đâu". Không bán được hàng mà lạ thay trong lòng tôi lại không một gợn buồn. Chỉ thằng bạn bụi đời của tôi hiểu rằng, tôi bán hoa nhưng để mua tình, cái thú vui có phần điên rồ của tôi vào những năm trai trẻ, và có vẻ như nó vẫn còn đeo đuổi tôi cho hết cả cuộc đời còn lại. Uống rượu đến 2 giờ sáng, tôi đến chợ Cầu Muối xin quá giang xe chở rau trở về Đà Lạt.
Bảy giờ sáng xe đến nơi, thả tôi xuống bên bờ hồ Xuân Hương với cái túi rỗng tuếch và một tâm trạng nhẹ tênh như không hề có điều gì vừa xảy ra. Tôi thả bộ theo bờ hồ trong nắng xuân ấm áp và nhìn những cây anh đào nở lác đác những nụ hồng. Tôi bật cười vì hiểu ra anh đào Đà Lạt thường nở vào khoảng cuối đông, đến tết ta thì chỉ còn lác đác, nên không ai chơi tết bằng anh đào bao giờ. Kể từ hôm đó, tôi trở thành công dân Đà Lạt, và tưởng chừng như gắn bó suốt đời với anh đào.
Cũng trên con đường ven hồ, dưới những rặng anh đào thường trổ những tán hoa rực rỡ đó, trong một chiều cuối đông tôi đã dạo chơi cùng một thiếu nữ Đà Lạt có đôi mắt cổ xưa Nhật Bản và cái tên phảng phất một mùi hương hoa. Cái câu Đường thi "nhân diện đào hoa tương ánh hồng" sao mà hợp với cảnh vật và con người này quá! Tôi khó nhọc nói về tình yêu thầm kín của mình, còn cô bé thì cười rạng rỡ hồn nhiên với những bông hoa anh đào như tuồng không quan tâm gì đến những ngôn từ vất vả của tôi. Mấy tháng sau thì em đã mất hút đâu đó dưới Sài Gòn, nơi không có những mùa anh đào.
***
Còn lúc này có lẽ anh chàng tình nhân Đà Lạt có cái tên lãng mạn Hàng Tình đang lên cơn ngộp thở với anh đào. Đó cũng là trạng thái của tôi vào buổi sáng cuối đông đầu tiên ở Đà Lạt. Từ ô cửa sổ trên căn gác gỗ nằm lưng chừng dưới một thung lũng ở Đa Thiện, tôi choàng tỉnh khi nhìn thấy một màu hồng nở rực trên sườn đồi. Cái gì mà lạ lùng vậy? Tôi mở toang cửa sổ và choáng ngợp trước một rừng hoa nở hồng cả nền trời. Mới chiều qua thôi, ở đó vẫn còn là những thân cây khẳng khiu trụi lá.
Anh bạn già của tôi, một nhà giáo vô vi, từ Huế vào đây từ hơn 20 năm trước, chỉ cười và ra dấu tôi đi theo anh. Dưới sân, bên một cội hoa đào, anh đã pha sẵn hai ly cà phê. "Ngồi xuống đây chú em, 20 năm trước, anh cũng bị như chú". Đúng là tôi đang lên cơn ngộp thở vì cái màu hồng nở rực như chưa bao giờ có sự rực rỡ nào hơn thế. Rực rỡ như một mỹ nhân khoe hết vẻ đẹp của mình với đất trời. Nở hết mình như một kẻ hào hoa trải hết lòng dạ với đời...
Sau buổi sáng tôi gọi đùa là "hoắc nhiên tự ngộ" đó, tôi trở thành một kẻ mê đắm hoa cỏ. Cứ mỗi mùa dã quì nở hoặc anh đào khoe sắc là tôi lại xin nghỉ việc vài ngày. Tôi không thể làm việc được trong những ngày đó, những ngày mà trong đất trời như có một tiếng gọi của tình nhân. Tôi lang thang suốt ngày dưới những rừng anh đào ở thung lũng Prenn, vòng về Trại Mát, vòng qua Suối Vàng, vào tận Tà Nung.
Tôi chụp hết cuộn phim cho một cây anh đào rất lạ, nó mọc xoắn xuýt theo cái bồn nước bê tông ở Sở Điện lực và nở rực rỡ như thể cái bồn nước rêu mốc cũ kỹ ấy đang hồi xuân, một sắc xuân hồng thắm như không thể hồng hơn. Tôi ngồi suốt buổi chiều ở quán Thuỷ Tạ để ngắm rặng anh đào trổ hoa bên hồ Xuân Hương. Hoàng hôn buông xuống, hoa vẫn nở mỗi lúc mỗi phóng khoáng hơn, trong bóng tối. Và mọi ưu phiền trong tôi dần tan loãng, rồi tan biến đâu đó trong trời đất... Áp tết Mậu Tý 2008