Chất giọng ấy, lối nói ấy giờ ngày càng vắng đi trong các giao tiếp hàng ngày, nên người còn đó, đời còn đó mà cứ ngỡ là xa vắng.
Nhớ cách đây nhiều năm, hồi đang diễn ra Festival Huế 2002, mới manh nha chuyện các ngôi nhà rường cổ của Huế mở cửa đón khách du lịch nên tôi được phân công đi viết về chuyện này.
Bây giờ vẫn còn nhớ như in cảm giác choáng ngợp pha chút sợ hãi của một thằng "Huế nhà quê" lần đầu tiên được đặt chân vào khuôn viên một ngôi nhà rường vốn là nhà một vị quan lớn dưới triều Nguyễn, mà tính tuổi tôi phải gọi bằng cố ở bên bờ một dòng sông.
Thật sự bối rối, không biết phải xử sự thế nào khi tiếp tôi là bà "Tôn Nữ...", chủ nhà tầm tuổi mẹ tôi, da mặt hồng hào, thướt tha, yểu điệu trong bộ áo dài truyền thống, lại miệng cười tươi như hoa, lời nhẹ như gió thoảng, một vòng tay cúi mình "dạ thưa anh", hai vòng tay cúi mình "dạ thưa anh"...
"Có một Huế khác nằm trong Huế" là đầu đề của một bài báo tôi viết sau đó với chút tự hào rằng mình đã "khám phá", "phát hiện" được có một không gian Huế xưa ngỡ đã mất, khác hẳn với không gian Huế hơi "trần trụi" hàng ngày mà tôi đang sống.
Bài báo sau đó nhận được rất nhiều lời khen của bạn đọc. Bây giờ, ngôi nhà đó đã trở thành một điểm đến của du khách trong, ngoài nước trong tour tham quan nhà vườn Huế, nên thỉnh thoảng tôi cũng tới lui, chủ yếu là lấy thông tin phục vụ cho công việc. Tuy nhiên những độ sau này, cảm giác của tôi không còn được như trước.
Giờ mỗi lần buộc phải bước vào ngôi nhà ấy, tôi không còn cảm giác choáng ngợp nhưng lại sờ sợ. Sợ là bởi hình như ngày xưa mình đã nhầm. Không gian ấy, con người ấy có điều gì đó không được thật, như là đang diễn.
Sự từ tâm, nhẹ nhàng, từ tốn và lễ phép của người Huế nó sâu lắng và chân thật lắm. Và nói như nhà nghiên cứu văn hóa Hồ Tấn Phan thì " những đặc tính ấy đã ăn sâu vào máu thịt đến nỗi nếu tui không từ tốn, nhẹ nhàng, lễ phép... thì tui không còn cái chi khác để nói, để làm... với người đối diện".
Cuối năm ngồi nhớ xem mình đã bao lần chơi trò nhắn tin bằng "giọng" Huế. Luôn bị bạn mắng là "điên nặng" nhưng biết làm sao được khi mỗi lần thế, tôi lại nghe lòng run run như bất chợt gặp lại tuổi thơ mình trong đống bưu ảnh cũ.
Chất giọng ấy, lối nói ấy giờ ngày càng vắng đi trong các mối giao tiếp hàng ngày, nên người còn đó, đời còn đó mà cứ ngỡ là xa vắng...
Nhớ mấy tháng trời say sưa nằm đọc "Từ điển tiếng Huế" của một người Huế đang sống ở Pháp là bác sĩ Bùi Minh Đức. Thích thì rất thích, hay thì rất hay, nhưng để có được cảm giác quay quắt nhớ nhà, nhớ Huế dù đang... ở ngay giữa lòng Huế như trò chơi nhắn tin, thì hình như cuốn từ điển vẫn còn thiếu điều gì đó, ví như sự động đậy...
Thời những năm 20 tuổi, mỗi lần ba bắt tôi thắp nhang bàn thờ tổ tiên hàng đêm, tôi vì sợ mắng mà làm chứ trong thâm tâm nghĩ: "Đây là việc của mấy ông già khăn thụng áo dài, thời mình ai còn làm thế nữa?".
Phải đến năm hơn 30 tuổi, đã lấy vợ, chuẩn bị sinh con, tôi mới hiểu được cảm giác cầm nhang đứng trước bàn thờ tiên tổ, ngoài chuyện hiếu đạo, nó còn giúp cho người ta nhũn nhặn, khiêm tốn và bớt ngổ ngáo đi. Nhưng buồn là đến khi biết nghĩ như vậy thì lại thấy việc làm của mình sao mà lạc lõng với chung quanh.
Những năm 20 tuổi, tôi luôn nhìn mấy đứa "con nhà" (ý nói được giáo dục tốt, sinh ra trong nhà có nề nếp, truyền thống...) học cùng lớp với ánh mắt ghen tị lẫn chút thương hại. Thương hại bởi suốt ngày, chúng phải sống và tuân theo những quy củ, luật lệ của gia đình đôi khi rất hà khắc. Tôi đọc thấy sự chán chường và ý muốn nổi loạn trong từng ánh mắt...
Đến bây giờ, khi tôi hiểu thế nào là giá trị của gia phong, nếp nhà và sự noi gương trong việc hình thành tính cách và nhân phẩm của mỗi con người, thì cũng là lúc những giá trị ấy đã bị hư hao và thương tổn.
Cuối năm, không hẹn mà gặp, tôi được một số "người ta" nhờ đi hỏi chuyện những người có trách nhiệm, các nhà nghiên cứu văn hóa... về sự còn mất của những giá trị văn hóa truyền thống Huế, một thời được ví là "nét son".
Là thành phố cuối cùng còn lưu lại hình ảnh hoàng hôn của các triều đại phong kiến cuối cùng lấy Nho giáo làm ý thức hệ chủ yếu, nên lâu nay, người ta vẫn xem Huế là thành trì cuối cùng lưu giữ được những giá trị của quá khứ.
Tuy nhiên trong cách nhìn của nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Hữu Thông - Phân viện trưởng Phân viện Nghiên cứu văn hóa miền Trung thì thành trì cuối cùng này cũng đã "thất thủ", nên Huế đã và đang chịu cùng chung số phận như những thành phố khác".
Ông nói: "Tôi và những người cùng thế hệ như tôi rất đau lòng vì chỉ trong vòng một thập niên trở lại đây, lời ăn tiếng nói, cách đi đứng, trang phục; hàng xóm láng giềng, cha mẹ, anh chị em trong gia đình ứng xử với nhau; gia phong, nếp nhà... của người Huế không còn được như xưa nữa, mà dần trở nên "hỗn loạn"...".
Trong quá trình tìm hiểu chuyện này, tôi nhận được rất nhiều cách lý giải của nhiều người, nhiều giới. Nhưng tôi thích cách của ông Nguyễn Hữu Thông khi ông nói: "Trong dòng chảy hội nhập và phát triển, người Huế ngày càng vội vã hơn trong chuyện cơm áo và tìm kiếm tương lai, cũng như để chứng tỏ mình đã bắt kịp với những tín hiệu của đồng loại.
Bây giờ người Huế mình cũng bắt đầu đánh giá tiêu chuẩn văn minh, hiện đại của người thành phố qua ăn mặc, làm đẹp, xe cộ, và biết những thứ từ "bãi rác" mà phương Tây đã đào thải từ rất lâu rồi...
Trong từng gia đình, những lời đối thoại với con cái trong những bữa cơm gia đình dần được thay cho những lời mắng nhiếc vì bố mẹ chịu quá nhiều áp lực của cuộc sống. Trẻ con thì suốt ngày xem ti vi và chơi game thay cho đọc sách, dẫn đến tiếp nhận thông tin thụ động nên mất đi khả năng đối thoại và diễn đạt.
Thanh thiếu niên Huế bây giờ rất thờ ơ và phần lớn không hiểu biết thế nào là luân lý và văn hóa truyền thống. Bây giờ ra đường tiếng chửi tục, chửi thề nhiều hơn tiếng cám ơn, tiếng dạ thưa...
Tôi có cảm giác là sự tế nhị và khả năng che giấu cảm xúc trong cuộc sống, trong giao tiếp hàng ngày; nhất là khả năng chống lại những cám dỗ bản năng không có luân lý của người phụ nữ Huế càng hiếm đi...".
Đã có lúc tôi rất thích và từng trích dẫn trong một bài viết của mình ý kiến cho rằng "văn hóa Huế bây giờ đang bị tổn thương nghiêm trọng". Thế nhưng sau này cũng như chuyện bà "Tôn Nữ" mà tôi vừa kể, ngẫm rồi giật mình thấy hình như mình đã không đúng, bởi văn hóa Huế, văn hóa của cả đất nước, không riêng gì bây giờ mà thời nào chả bị tổn thương do va đập, xung đột với bên ngoài và tự nó?
Hôm rồi ngồi cà phê ê a bên bờ sông Hương, một người "Huế già" rất đáng kính nhân nghe chuyện đã tâm sự rất thật: "Thế hệ những người như chú luôn nghĩ về quá khứ bằng những hồi ức rất đẹp đẽ. Ai đó đăng đàn, hoằng pháp rằng thời chú, bác, anh... sống như thế này, như thế kia là đôi khi họ đang nhớ tới sự đẹp đẽ của gia đình họ chứ không phải nhớ tới bối cảnh chung của toàn xã hội. Thậm chí chú biết có rất nhiều người đã... tưởng tượng ra sự đẹp đẽ chứ trong thực tế, cuộc sống của họ không hề có những chuyện như vậy...".
Thi thoảng trong công việc và bên những bàn chuyện, tôi thường bị "nhốt" vào trong "nhiều thế hệ trẻ tuổi của Huế", và bị mắng cho tơi tả vì tội không yêu, không hiểu biết về văn hóa và lịch sử của nơi đã sinh mình ra. "Họ không hiểu, không biết, không yêu là do không ai dạy cho họ biết, họ hiểu, họ yêu" - Và chúng tôi cảm thấy được an ủi đôi chút khi nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan lên tiếng bênh: "Người lớn suốt ngày than trách trẻ con bây giờ chỉ đắm say với nhạc trẻ, nhạc Tây ùm bà là mà không ai thèm nghe nhã nhạc, ca Huế, xem tuồng..., nhưng lại không ai từ nhà trường, gia đình... cung cấp cho họ những kiến thức cơ bản về tuồng, nhã nhạc, ca Huế... để người ta hiểu. Mỗi khi họ không hiểu, không thấm thì làm sao xem, nghe được mà yêu với không yêu? Vô tri bất mộ mà. Người xưa đã nói vậy!".
Để thực hiện loạt bài viết liên quan đến chủ đề này, tôi đã thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn bỏ túi. Và kết quả thu được rất thú vị khi tôi ghi nhận được một thế hệ người cũ sống trong tâm trạng chán chường, bất mãn nhưng không hành động mà bàng quang với những thay đổi quanh mình; một số khác lại quay ra công kích, phản đối theo kiểu phủ nhận sạch trơn!
Với người trẻ, tầng lớp đại diện cho cái mới, một số chấp nhận hoặc chịu sự áp đặt của người lớn. Nhưng một số lại phản ứng với câu hỏi: "Vì sao các cụ luôn phủ nhận tôi, nhưng lại bắt tôi công nhận các cụ?". Thậm chí như một người bạn của tôi, càng bị các cụ chửi mắng, bạn càng làm ngược lại, càng phá cho... bỏ ghét!
Tôi có một giấc mơ, rằng một ngày đẹp trời, những người có trách nhiệm, các phương tiện thông tin đại chúng sẽ tổ chức những cuộc đối thoại thế hệ giữa một người già và một người trẻ, giữa cái cũ và cái mới để "chúng tôi" tìm và cùng nói một tiếng nói chung.
"Hoang đường quá !" - Bạn bảo: "Bao năm nay mình mơ, trong gia đình mình, chỉ cần giữa ông bà, bố mẹ, và các anh em mình, thay cho những trách mắng và yêu cầu tuân lệnh, hay tệ nhất là cảm giác chán chường bằng những cuộc đối thoại tình cảm và có trách nhiệm thì cuộc sống sẽ dễ chịu hơn không biết bao nhiêu mà kể...". Rồi bạn thở dài: "Một ước mơ đơn giản, cỏn con, thậm chí buồn cười, nhưng sao mà khó...".
Lần nào ngồi "mộng du" và tự vấn với người "Huế già" bên bờ sông Hương, ông cũng lấy tư cách người sống lâu mà khuyên rằng: "Con người ta, dù mắt có nhìn xa trông rộng đến bao nhiêu thì cũng chỉ có 3 chiều: giữa, trái và phải, cho nên thi thoảng phải biết nhìn lui để thời gian, không gian... không bị đứt quãng...".
Hôm qua đánh liều mà thưa với ông đùa đùa thật thật: "Như cháu bây giờ suốt ngày phải học rất nhiều thứ, làm rất nhiều việc, trong đó việc quan trọng nhất vùi đầu vào kiếm tiền, kiếm tiền, kiếm tiền để nuôi vợ, nuôi con, mua nhà, sắm xe cùng hàng trăm ngàn thứ linh tinh khác của đời sống, thậm chí thời gian nhìn nghiêng cũng không có, lấy đâu mà nhìn lui, nhìn tới ba chiều hả chú?". Ông cười lắc lắc cái đầu đã bạc trắng. Không khí trở nên trầm lắng. Chuyện từ đó buồn hẳn.
Hôm qua sau khi giã từ ông, tôi lại làm một công việc quen thuộc là "nhờ" một cô bạn tận Hà Nội nhắn tin, "chửi" cho mấy câu bằng giọng Huế cho đỡ nhớ! Xong lại nghe lòng xôn xao nhớ, run run như bất chợt gặp lại tuổi thơ mình trong đống bưu ảnh cũ...