Rồi đến lúc học đại học, cũng cảm thấy không mấy hứng thú, dù biết rằng, sử thi là một gia tài lớn, lưu trữ ký ức của nhân loại.
Trong bài viết "Nhận thức và ước vọng của người xưa" ở đầu sách, Phang Quang viết rằng: "Sử thi hoặc anh hùng ca là những thiên tự sự thường bằng văn vần ra đời rất sớm". Tôi thấy đúng nhưng có cảm giác chưa đủ.
Mặc dù vậy, không thể không đồng ý với lời nhận xét của GSTS Phan Đăng Nhật trong lời bạt cuốn sách này: "Sử thi (hoặc anh hùng ca) là một trong những giá trị văn hoá phi vật thể hàng đầu của nhân loại".
Lại cũng có người bảo, dân tộc nào có sử thi thì coi đó là niềm tự hào lớn. Nhưng lạ lùng thay, có những dân tộc lớn lại không có sử thi. Điều đó phải cắt nghĩa thế nào? Nhưng ước mong của Phan Quang là muốn "giới thiệu một số sử thi huyền thoại từ di sản văn hoá của nhiều dân tộc sống ở những kinh độ và vĩ độ rất xa nhau... Có những nền văn minh nay đã lụi tàn, có những dân tộc giờ đứng ở hàng đầu bản đồ địa chính trị thế giới. Thời tiền sử dĩ nhiên họ chưa hề biết đến nhau, mà lạ thay và kỳ diệu thay, truyền thuyết và huyền thoại của họ lại có nhiều điểm tương đồng như từng hẹn ước".
Vừa lạ vừa không lạ, bởi lẽ phát hiện vĩ đại về bản đồ gene của nhân loại những năm đầu thế kỷ XXI đã chứng minh rằng, cả nhân loại hiện nay đều có chung tổ tiên từ khởi thuỷ. Cùng với sự phát triển của loài người, đúng như Phan Quang nhận xét: "Sử thi huyền thoại Đông Tây cực kỳ đa dạng cả về nội dung, triết lý, ý nghĩa, hình thức, cấu trúc, phương pháp thể hiện... Đa dạng như loài người. Chí ít cũng đa dạng như các nền văn hoá khác nhau trên trái đất".
Trong cuốn sách dày dặn này của Phan Quang, ông chỉ chọn một trích đoạn về Hoàng tử Rana và Công chúa Xita. Điều đó là dễ hiểu, bởi ông muốn giới thiệu nhiều gương mặt sử thi huyền thoại Đông Tây. Nhưng dù không nói ra, nhưng rõ ràng sử thi của một dân tộc lớn như Ấn Độ, theo tôi đến giờ vẫn còn có một sức nặng "khủng khiếp"!
May mắn thay, ngay cả trong thời kỳ đất nước ta còn gian khó, giấy in còn hiếm, Việt Nam đã dịch và cho xuất bản hai bộ sử thi vĩ đại của Ấn Độ, "Mahabharatta" và "Ramayana". Và đại diện cho sử thi của Việt Nam, không có một sự lựa chọn nào chính xác hơn là "Đam San" của dân tộc Ê Đê mà người giới thiệu đầu tiên ra thế giới là của một người Pháp, ông L.Sabatier.
Phan Quang có cách giới thiệu sử thi huyền thoại rất riêng. Ông có lời mở đầu, sau đó dịch một số trích đoạn và cuối cùng là một vài trang nhận xét ngắn gọn, tinh tế và xác đáng.
Phan Quang là một nhà báo kỳ cựu và xứng đáng ngồi ăn "tiên chỉ" ở làng báo nước nhà hiện nay. Không cần nêu danh ông gắn với các chức vụ lớn trong ngành báo chí truyền thông mà ông từng đảm nhận. Chỉ cần giản dị một từ nhà báo với ông đã là quá đủ. Một danh hiệu đúng nghĩa và đích thực mà hàng ngàn, hàng vạn nhà báo của ta hiện nay suốt đời không đạt được nếu hiểu theo một cách ý nghĩa nhất của từ này.
Phan Quang còn là một nhà văn. Không chỉ mang danh hiệu Hội viên Hội Nhà văn VN từ khi thành lập năm 1957, dù sự nghiệp văn chương của ông không thật sự đáng kể bằng nghiệp báo, nhưng ông biết đưa văn vào báo, để cho các tác phẩm báo chí của mình đỡ bị thời gian xoá nhoà. Điều đáng quý nữa ở ông là dịch thuật. Dường như đó cũng là cách ông trả nợ với văn chương, và giúp bạn đọc hiểu thêm về kho tàng tri thức của thế giới mà không có một sự nghiệp báo chí dù lớn đến đâu bù đắp được.
Với vốn trí thức cao, tính cách cẩn trọng như của một người nghiên cứu, vừa thích "ôn cố" và biết gợi người đọc "tri tân", nhiều bài viết và những tác phẩm dịch của Phan Quang rất có giá trị.
Ở tuổi ngoài 80, Phan Quang vẫn còn sức làm việc và làm việc có hiệu quả. Thế thì còn gì mừng hơn với một đời cầm bút?
+++
(Phan Quang tuyển chọn, biên dịch và bình chú - XNB Văn học 2008, 540 trang).