Nay dư luận lại càng ngạc nhiên khi ngành than cảnh báo chúng ta sẽ phải nhập than trong nay mai với số lượng lớn (8 triệu tấn vào năm 2012, tức là chỉ gần 4 năm nữa!) Thậm chí các tập đoàn than và khoáng sản và tập đoàn điện còn lớn tiếng kêu rằng "có tiền cũng không mua được" than của nước ngoài. Các nỗ lực đàm phán mua than của Indonesia cho các nhà máy nhiệt điện ở phía nam rất khó khăn, và quy hoạch ngành điện có nguy cơ bị vỡ vì thiếu than.
Và họ kêu gọi, họ đề nghị "Chính phủ sớm xem xét để thực hiện cơ chế giá thị trường cho than, đồng thời xem xét đưa than vào danh mục mặt hàng độc quyền nhà nước để có cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư phát triển nhanh sản xuất trong nước". Có thể thấy rõ mục đích của họ là gì. Tôi tin những con số quy hoạch trước kia cũng do chính họ đệ trình. Hãy xem những con số đã được Thủ tướng phê duyệt cách đây 5 năm và con số mà họ đang kiến nghị.
Theo Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam giai đoạn 2003-2010 và dự báo đến năm 2020 đã được Thủ tướng phê duyệt ngày 29-1-2003, sản lượng sản xuất than đá thương phẩm với mức dự kiến là đến năm 2005: 16-17 triệu tấn; năm 2010: 23-24 triệu tấn; năm 2015: 26-27 triệu tấn; năm 2020: 29-30 triệu tấn. Năm năm sau đã có thay đổi đáng kể.
Theo đề nghị của Bộ Công Thương với Chính phủ, năm 2010, tổng nhu cầu than trong nước là 37 triệu tấn, tổng sản xuất 47 triệu tấn, có thể xuất khẩu 10 triệu tấn; năm 2015, tổng nhu cầu than là 94 triệu tấn, trong khi tổng sản xuất là 60 triệu tấn, còn thiếu 34 triệu tấn, đến năm 2025, nhu cầu tăng lên 308 triệu tấn, trong khi tổng sản xuất là 80 triệu tấn.
Trong quy hoạch Chính phủ cũng đã mở cửa cho việc điều chỉnh "để phù hợp nhu cầu thị trường trong từng giai đoạn, kể cả việc nhập khẩu than trên cơ sở cân đối hiệu quả chung của nền kinh tế". Nhưng có thể thấy gì qua những con số kiến nghị điều chỉnh?
Hãy lấy các con số kiến nghị chia cho con số cao nhất đã được duyệt, ta thấy, đến năm 2010 tỉ lệ đó là 37/24 = 1,54 (hoặc 47/24= 1,96 lần); năm 2015: 60/27= 2,2 (hoặc 94/27= 3,5 lần); năm 2025 so với dự kiến trước của năm 2020 là 80/30 = 2,7 (hoặc 308/30 = 10,27 lần). Chênh lệch là từ trên 50% đến cả ngàn phần trăm! Có thể thấy ngay chất lượng của quy hoạch quá kém.
Tôi không phải là chuyên gia về năng lượng hay về than. Không rõ có các cơ quan nào thẩm định độc lập các con số trước khi đưa lên cho Thủ tướng ký? Không rõ các tổ chức xã hội dân sự, các viện nghiên cứu, các nhà khoa học đã có bình luận gì, góp ý gì về những vấn đề to lớn đó của đất nước? Hay chúng đã chỉ do các "chuyên gia" của chính ngành than đưa ra một cách "rất khoa học", "rất khách quan"? Cần phải nghi ngờ, cần phải đặt ra nhiều câu hỏi đối với những con số "quy hoạch" của các đại gia này cũng như các đại gia khác.
Nhu cầu và đảm bảo năng lượng cho sự phát triển của đất nước là việc rất hệ trọng. Phải tính dài hạn, 50 năm, 100 năm chứ đâu phải chuyện 5-10 năm. Thế mà dự báo cho 10-20 năm làm cũng chẳng ra hồn (và hoàn toàn có thể đặt nghi vấn về những con số được đưa ra). Hãy xét con số được nêu ra cho năm 2015 và 2025: tổng nhu cầu sẽ là 94 triệu tấn tăng lên 308 triệu tấn (tăng 3,28 lần trong 10 năm hay tăng bình quân 12,61%/năm). Như thế tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng tốn năng lượng, tốn điện, tốn than vào bậc nhất thế giới.
Theo các cơ quan hữu trách, trữ lượng than có thể khai thác của Việt Nam là khoảng 3,5 tỉ tấn (trữ lượng 210 tỉ tấn hay vài chục tỉ tấn ở vùng đồng bằng sông Hồng còn cần nghiên cứu thêm và chưa rõ có thể khai thác được bao nhiêu). Nếu giả như để cho Tập đoàn Than và Khoáng sản khai thác hết nhu cầu cỡ 300 triệu tấn/năm như họ tính thì trước năm 2035 chúng ta sẽ hết sạch than! Viễn cảnh thật khủng khiếp, chỉ sau gần 30 năm nữa!
Mới chỉ ngó sơ sơ những con số do ngành than nêu ra cũng có thể thấy rất nhiều vấn đề. Có thể rất phải nghi ngờ những con số quy hoạch. Có thể thấy triển vọng vô cùng u ám về năng lượng. Tôi nghĩ các nhà khoa học, các viện nghiên cứu, các tổ chức xã hội dân sự cũng như các cơ quan hữu quan nên vào cuộc, nghiên cứu thấu đáo hơn, có cơ sở hơn về vấn đề này.
Tương lai của đất nước phụ thuộc vào năng lượng, phụ thuộc vào cách chúng ta lập quy hoạch, vào cách chúng ta khai thác và sử dụng năng lượng. Không ai có thể độc quyền suy nghĩ và tính toán. Hãy tạo điều kiện để cho mọi người có thông tin, có phương tiện để góp ý, để phản biện những quy hoạch hết sức quan trọng này.