Ngân hàng Nhà nước đã thắt chặt chính sách tiền tệ bằng cách giảm cung tiền và thiết chặt tín dụng. Sự can thiệp này là đúng hướng, nhưng chưa đủ. Hơn nữa, người ta đã đưa ra các biện pháp hành chính (buộc các ngân hàng thương mại mua tín phiếu), áp đặt trần lãi suất huy động, v.v... đã làm cho tình hình càng phức tạp thêm. Công cụ lãi suất và tỉ giá chưa sử dụng một cách hữu hiệu.
Chúng ta sẽ chỉ bàn sơ qua về chính sách lãi suất. Lãi suất là một công cụ vô cùng hữu hiệu trong tay Ngân hàng Nhà nước. Công cụ này đã chưa được sử dụng phù hợp và nhiều chuyên gia, kể cả các chuyên gia của Ngân hàng Nhà nước, đã không thể hiểu nổi cách ứng xử lạ kỳ này của Ngân hàng Nhà nước.
Ai cũng biết lãi suất tăng theo kỳ vọng lạm phát. Tức là nếu người ta dự đoán lạm phát tăng (trong thực tế chưa chắc đã tăng) thì đã khiến lãi suất tăng. Đây là điều không hay, song chỉ có sự minh bạch và nhất quán về thông tin mới có thể giúp giảm bớt tăng lãi suất theo kỳ vọng lạm phát này. Hơn nữa khi lạm phát đã gia tăng thì không thể giữ lãi suất cố định mãi. Lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước đã không thay đổi trong thời gian dài và là một nguyên nhân của sự bành trướng tín dụng góp phần gây lạm phát.
Lãi suất tăng sẽ gây khó khăn cho nhiều dự án kinh doanh, làm giảm tăng trưởng kinh tế, người ta thường nghĩ như vậy. Không sai. Song lãi suất tăng là một chỉ báo, là một công cụ vô cùng hiệu quả để buộc các doanh nghiệp, các chủ đầu tư cân nhắc, tính toán về hiệu quả kinh doanh và đầu tư. Họ sẽ buộc phải dãn, hoãn hay chấm dứt những việc kinh doanh kém hiệu quả (không lãi nhiều hay lỗ) và tập trung nguồn lực, kể cả tiền vay, vào các dự án hay công việc kinh doanh có hiệu quả (cao hơn lãi vay).
Nó hữu hiệu hơn ngàn lần lời "hô hào" tiết kiệm, cân nhắc, dãn hay hoãn của các nhà chức trách. Hàng triệu hộ gia đình, hàng trăm ngàn doanh nghiệp, tự họ, vì sự sống còn của chính họ, chính họ phải cân nhắc, tính toán và chẳng có ai có thể làm thay họ. Lãi suất phù hợp là công cụ vô cùng hữu hiệu để phân bổ nguồn lực xã hội, để làm sạch thị trường, để sàng lọc giữa việc kinh doanh hiệu quả và không hiệu quả.
Công cụ này hữu hiệu hơn ngàn lần các uỷ ban, hội đồng muốn rà soát xem cái nào hiệu quả, cái nào không, cái nào nên hoãn, dự án nào nên được tăng cường đầu tư. Không sử dụng công cụ này hay sử dụng nó một cách méo mó chỉ có hại cho nền kinh tế, chỉ giữ các dự án phi hiệu quả lay lắt, gây méo mó, không mang lại hiệu quả nhưng cuối cùng cũng không thể duy trì được.
Các ngân hàng trả lãi suất 12%/năm cho bất cứ kỳ hạn tiết kiệm nào là một điều hết sức phi lý. Do lãi suất không phù hợp, người dân không có khuyến khích để gửi tiền đồng VN vào ngân hàng mà lại đem đầu tư vào các lĩnh vực khác càng gây khó khăn cho hệ thống tiền tệ và nền kinh tế (việc mua vàng, mua ngoại tệ mà sự gia tăng nhập vàng và khan hiếm ngoại tệ có thể là chỉ báo).
Các ngân hàng gặp khó khăn về tiền mặt và phải tìm mọi cách lách quy định về lãi suất. Do lãi suất cơ bản không được hiệu chỉnh nên hầu hết ngân hàng vi phạm luật dân sự và điều này chứa đựng những hiểm hoạ khôn lường. Những thông điệp không nhất quán về cách hành xử của nhà chức trách (không tăng giá một số mặt hàng đến hết tháng 6, vậy sau tháng 6 thì sao, tăng giá sách giáo khoa, v.v... gây ra kỳ vọng lạm phát và khuyến khích người ta tích trữ hàng gây khan hiếm giả tạo và đẩy giá lên nữa). Cái vòng luẩn quẩn này rất nguy hiểm và nhất thiết phải chặn lại.
Như thế lo lãi suất tăng làm khó doanh nghiệp, làm giảm tăng trưởng mà không thấy những mặt tích cực của lãi suất trong phân bổ nguồn lực và làm trong sạch thị trường là cách nhìn thiển cận và không thể đứng vững. Xem ra ý muốn duy trì "tăng trưởng nhanh" vẫn còn lớn lắm, nhưng ngân hàng khó về thanh khoản, cơ chế phân bổ nguồn lực bị bóp méo, các dự án hữu hiệu khó kiếm vốn, các dự án kém hiệu quả vẫn tiếp tục có thể lay lắt, thì làm sao có tăng trưởng bền vững, làm sao tăng trưởng nhanh được. Thực là "gậy ông lại đập lưng ông".
Có người lo phải cứu các ngân hàng nhỏ, khó khăn. Nếu không cứu thì có thể kéo cả hệ thống ngân hàng vào tình thế khó khăn và đây là một điều rất nguy hiểm. Chỉ đúng một nửa. Cứu hệ thống không có nghĩa là cứu các ông chủ hay ban lãnh đạo của các ngân hàng kém. Ngân hàng Nhà nước đã có nhiều kinh nghiệm và có thể xử lý vấn đề này không mấy khó.
Để cho các ngân hàng lành mạnh có thể mua lại ngân hàng nhỏ (thay cho việc cho nhiều ngân hàng ra đời hay nâng cấp ngân hàng nông thôn thành ngân hàng đô thị như đã được làm ồ ạt trong vài năm qua), tăng cường kiểm soát, giám sát, thậm chí kiểm soát đặc biệt là những biện pháp không xa lạ với Ngân hàng Nhà nước. Nhưng nếu các "cổ đông lớn", các "ông chủ" của các ngân hàng ấy hay những người đã chủ trương sai lại có thể ảnh hưởng đến chính sách "cứu" thì vô cùng nguy hiểm.
Tôi tin Ngân hàng Nhà nước có nhiều chuyên gia rất giỏi, có nhiều kinh nghiệm và có thể giải quyết tốt vấn đề. Hay họ không được làm vì có ai đó không để cho họ làm? Nếu thế thì cực kỳ nguy hiểm, cần phải chấm dứt ngay.
>> Bỏ trần, lãi suất sẽ cao hơn mức lạm phát?
>> Nên tôn trọng sự vận hành của thị trường
>> Nhiều ngân hàng tăng khuyến mãi để hút vốn