Tin mới nhận:  
Đăng ký tin thư
  Email của bạn
  
  
Quảng cáo
Doanh nghiệp nhà nước chống lạm phát
Lao Động Cuối tuần số 15 Ngày 13/04/2008 Cập nhật: 6:42 AM, 13/04/2008
(LĐCT) - "Kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước" là một trong những biện pháp được Thủ tướng nêu ra để chống lạm phát, để ổn định kinh tế vĩ mô.

Vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước luôn chiếm tỉ lệ cao trong tổng đầu tư xã hội (theo thứ tự từ năm 2000 đến 2006 là: 51,9; 59,8; 57,3; 52,9; 48,1; 47,1 và 46,2%) nhưng tỉ lệ đóng góp vào GDP không cân xứng chỉ ở mức 37-39% và tạo công ăn việc làm cho khoảng 9% lao động.

Suốt hàng chục năm khu vực kinh tế nội địa, mà có lẽ chủ yếu là khu vực kinh tế nhà nước, luôn nhập siêu ở mức cao (năm 2007: 20,3 tỉ USD) còn khu vực đầu tư nước ngoài lại xuất siêu, nói cách khác các doanh nghiệp nhà nước đã tiêu dùng và đầu tư hơn mức nó tạo ra rất nhiều trong thời gian dài. Đấy là những con số thống kê biết nói về thành tích của khu vực kinh tế giữ vai trò "chủ đạo".

Chính vì muốn khu vực kinh tế nhà nước nắm vai trò "chủ đạo" nên khu vực này đã được hưởng những ưu đãi mà khu vực tư nhân (trong và ngoài nước) phải ghen tỵ (hay may thay không được "ưu ái" như vậy, vì nếu được ưu ái như thế thì chúng cũng sinh hư). Chúng được độc quyền kinh doanh trong nhiều lĩnh vực, được sử dụng những nguồn lực to lớn của đất nước như tài nguyên, đất đai và vốn đầu tư, được ưu đãi tín dụng, v.v...

Theo Thủ tướng Chính phủ, "các tập đoàn, tổng công ty... được vay tới 80% lượng vốn từ các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng và cũng là con nợ nước ngoài lớn nhất, chiếm tới 70% lượng vay...". Chúng được chính phủ vay hộ tiền để kinh doanh và đầu tư, hay được Nhà nước bảo lãnh cho các khoản vay của mình (thí dụ 750 triệu USD chính phủ đi vay và cho Vinashin vay lại, hay khoản bảo lãnh 2 tỉ USD gần đây cũng cho tập đoàn đó).

Khi khoản vay của chúng vượt quá hạn mức an toàn của một hay một số ngân hàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (hiện tại là 15% vốn tự có của ngân hàng cho tổng dư nợ của một khách hàng và các tổ chức liên quan) thì có lệnh của Chính phủ cho phép (các) ngân hàng đó được "vượt rào". Khi chúng gặp khó khăn thì Nhà nước "cứu trợ", "khoanh nợ", "bơm thêm vốn" v.v. và v.v... Chúng như những đứa "con cưng" luôn được nhà nước nuông chiều (các nhà kinh tế học gọi hiện tượng này là nhà nước làm mềm ràng buộc ngân sách của chúng).

Ràng buộc ngân sách càng mềm, doanh nghiệp hoạt động càng không hiệu quả. Ràng buộc ngân sách của khu vực tư nhân thường rất cứng. Ràng buộc ngân sách cứng, động cơ lợi nhuận cao, sự sẵn sàng cạnh tranh, tính năng động, sáng tạo là những lý giải vì sao khu vực tư nhân hiệu quả hơn khu vực kinh tế nhà nước.

Đấy là những sự thật và những kết luận của kinh tế học được kiểm chứng bằng thực tiễn trên khắp thế giới và tình hình của các doanh nghiệp quốc doanh trong nhiều chục năm qua ở Việt Nam cũng củng cố nhận định đó. Càng được ưu ái thì chúng càng "hư" hệt như những đứa con được nuông chiều quá đáng của các trọc phú.

Đã đến lúc phải nghiêm túc nhìn nhận lại vai trò "chủ đạo" của khu vực kinh tế nhà nước. Nhà nước nên xem xét lại vai trò của mình: Nhà nước phải làm những gì và không làm những gì. Ý tưởng về có các doanh nghiệp quốc doanh, các tập đoàn mà Nhà nước đầu tư và bổ nhiệm các vị trí lãnh đạo để làm công cụ cho Nhà nước "điều khiển" là một cám dỗ quyền lực hấp dẫn.

Thế nhưng Nhà nước cũng nên tìm hiểu kỹ vấn đề về người uỷ thác, người chủ (Nhà nước) và những người được uỷ thác, các nhà quản lý (lãnh đạo các doanh nghiệp quốc doanh). Do thông tin bất đối xứng (lãnh đạo doanh nghiệp biết kỹ tình hình doanh nghiệp hơn ông chủ Chính phủ) nên các nhà quản lý có thể rời xa các mục tiêu mà người chủ mong muốn (đó là chưa nói đến khả năng họ có thể che giấu thông tin) và người chủ khó có thể "điều khiển" được họ. Trên bảo "dưới không nghe" là chuyện ai cũng biết.

Nay tình hình lạm phát lên cao, các dấu hiệu bất ổn kinh tế vĩ mô hiện rõ và Nhà nước muốn dùng các công cụ này cùng các công cụ khác để đối phó. Các tập đoàn, các tổng công ty được ưu ái, theo Thủ tướng, "phải là lực lượng chủ lực để định hướng thị trường, cùng xắn tay vào với Chính phủ để kiểm soát lạm phát".

Trong các cuộc họp với các tổng công ty và tập đoàn vừa qua có thể thấy các tập đoàn đã miễn cưỡng chấp nhận việc không tăng giá, song hầu như tất cả đều ta thán và nêu khó khăn đúng như cách ứng xử của những đứa con cưng. Hiệu quả của việc dùng công cụ "kinh tế nhà nước" này ra sao chỉ tương lai mới rõ, song có thể suy đoán là không cao.

Cách triệt để hơn là nên tận dụng cơ hội này để xem xét lại tận gốc rễ vai trò của kinh tế nhà nước (theo tôi chúng không những không giữ được vai trò chủ đạo mà là một trong những nguyên nhân chính của vấn đề) và đẩy nhanh việc cải tổ chúng.

>> Vì sao lạm phát chưa "hạ nhiệt"?
>> Dự kiến giảm chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế xuống còn 6,5-7,5%
>> VN cần nhìn nhận đúng hơn về tăng trưởng kinh tế
>> Năm 2008, lạm phát sẽ là 18,3%
>> Cắt giảm chi tiêu công sẽ linh hoạt theo từng địa phương
>> Đồng tâm, hiệp lực kiềm chế lạm phát
>> Chống lạm phát: Tin vào sự ứng phó năng động

Nguyễn Quang A

Quảng cáo
 
Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2006 Báo Lao Động - Cơ quan của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. All rights reserved.
Giấy phép số: 221/GP-BVHTT • Tổng Biên tập: VƯƠNG VĂN VIỆT • Phó Tổng Biên tập: Tô Quang Phán - Vũ Mạnh Cường
Địa chỉ: 15/167 Tây Sơn - Đống Đa - Hà Nội • ĐT: 04-5330304 - 5330305 • Fax: 04-5370141 Email: webmaster@laodong.com.vn
Báo mới - Tổng hợp tin tức tự động