 |
|
"Thần khèn" Hoàng A Đô (bìa trái) cùng các bạn diễn. |
(LĐCT) - Hoang vu. Cách tỉnh lỵ Cao Bằng hơn 200km, có một cái bản tù mù đèn dầu, muốn gọi một cú điện thoại khẩn cũng phải vượt qua chặng đường 20km tụt theo các rông núi xuống phố núi không tên tiêu điều. Đấy là, bản Nà Hôm, xã Thạch Lâm, huyện Bảo Lâm.
Bản có một chàng trai được mọi người nể phục gọi là "thần khèn", cậu đi biểu diễn ở huyện, ở tỉnh, ở nhiều tỉnh khác, ở hội diễn quốc gia cũng đều đoạt giải quán quân. Cậu có thể thổi khèn, múa khèn trên những cây cọc gỗ nhọn chênh vênh, có thể đi trên dây thừng bắc giăng ngang sân khấu, vừa đi vừa thổi khèn Mông réo rắt, vừa nhảy nhót nhào lộn như một ảo thuật gia.
Điều đáng nói là: Chính điệu khèn mê đắm ấy đã giúp đồng bào bao đời sống sau vách núi được tắm mình trong không gian nguyên bản, cổ sơ của cha anh họ...
Một tài hoa lấm láp
Hoàng A Đô, năm nay 22 tuổi. Chàng trai Mông thanh tú, kiệm lời ấy sinh ra ở tít dưới huyện Hoà An của Cao Bằng, nhà nghèo, bố mẹ sinh hạ được những... 8 anh chị em. "Em học cũng hơi dốt... một tý - Đô thật thà - là bởi vì, năm 10 tuổi em mới được cán bộ xã xuống vận động đi học lớp 1, năm nay 22 tuổi mới học đến lớp 12".
Đấy là chưa kể, hồi học hết tiểu học ở cái phân trường gianh tre giữa bản vắng, không đủ sức vượt đèo vượt suối ra với trường cấp 2 ngoài xã, Đô đã phải bỏ ngang tuổi học. Bởi ở đó, muốn đến được trường thì phải qua nhiều bản, nhiều núi, với chiều dài khoảng 10km. Có khi cắp sách ra khỏi nhà, leo núi, đói quá, kiệt sức tựa vào đá, Đô ngủ quên trong hiên núi đến tối mịt khiến cả nhà, cả bản đôn đáo đi tìm.
Đô bỏ học được gần 1 năm, thì chú ruột cậu, ông Hoàng Văn Tu - Hiệu trưởng trường PTCS Thạch Lâm - về Hoà An thăm nhà. Thấy thằng cháu đẹp giai lồng lộng, "tinh anh phát tiết" từ khi chưa vỡ giọng mà cứ từ tinh sương đến tối mịt cắm mặt vào nương rẫy, ông đau.
Ông Tu bảo: "Lên Thạch Lâm ở với chú, không có cái chữ thì cái núi nó sẽ đè chết mày mất thôi!". Nhà có tới 8 anh em trứng gà trứng vịt, nhiều khi bố mẹ ngợ ngợ một lúc mới nhớ hết tên con, nên thấy ông Tu có 5 đứa con gái, suốt ngày khát thèm một "quý tử", thấy "chú Tu" hứa nuôi con mình ăn học để không bị cái núi nó đè chết, bố mẹ Đô mừng quýnh.
Thế là, Đô đã sống ở Thạch Lâm heo hút được 12 năm ròng. Tháng 6 năm 2008, vừa thi tốt nghiệp lớp 12 xong, Đô bảo tôi: "Đi thi, bài nào em cũng làm được, chỉ chờ xem nó đúng sai thế nào nữa thôi!".
Chuyện học chữ, thì có vẻ Đô ít tự tin. Nhưng nhắc đến cái môn thổi khèn chao lượn trên dây, trên cọc, giữa mây mù ngùn ngụt, giữa đám tang thê thiết ở bản nghèo hay giữa trang hoàng ánh đèn sân khấu một hội diễn quốc gia, thì đôi mắt Đô sáng rực.
"Em chưa bao giờ đi hội diễn, đi thi mà không được giải nhất!". Đô tự nói về mình, thật thà mà kiêu hãnh đến ngỡ ngàng, nó cũng thật thà như kiểu cậu bé vừa lơ lớ tiếng Việt, thổ lộ: "Em học chữ thì cũng hơi dốt một tý, một tý...".
Mang tiếng làm con nuôi một ông hiệu trưởng, nhưng nhà chú Tu thì cũng chẳng khá khẩm hơn nhà Đô ở dưới Hoà An bao nhiêu. Đến tận giờ phút này, vẫn không có điện, không có điện thoại, vẫn là mịt mù sơn cước. Trên đỉnh núi, giữa tím rắt sim mua, Hoàng A Đô và bố nuôi Hoàng Văn Tu đang nhào lộn quanh ba cái cọc gỗ nghiến đen trũi như xà beng sắt. Một cuộc trình diễn lạnh sống lưng.
Bước chân A Đô như bước chân con báo gấm có miếng thịt đệm dày trứ danh mà băng trên đỉnh đá tai mèo; bàn chân Đô như có mắt, nó chao liệng, phom phóp đặt vào ba cây cọc gỗ. Tôi ớn lạnh, chỉ sợ Đô trượt chân, cọc gỗ nghiến cũ càng sẽ xuyên thủng bụng chàng trai.
Trong cơn thần hứng của thứ sa-man giáo nào đó (ý là lên đồng vì nghệ thuật), tiếng khèn Mông vẫn chập chờn loang trong không gian rất là tài hoa. Đô đã co chân nhảy lò cò trên các đỉnh cọc gỗ, có khi em vắt chéo chân xoay tít trong không gian, có khi co quắp đặt một bàn chân lên... đùi mà vừa khèn vừa nhảy. Bước chân như có pháp thuật ấy lẹ làng hạ gót vào một cái cọc nào đó.
Ngẫu hứng, Đô và thầy Tu lại buộc sợi dây thừng vào hai tàng cây bìa núi, rồi Đô nhảy lên đó, lấy thăng bằng, trịnh trọng đưa khèn lên thổi, rồi đắm đuối bước chân lần theo dây, nhảy trên dây, co duỗi chân, xoay người trên dây như một nghệ sĩ xiếc, Đô vừa thổi khèn vừa bay lượn như con đại bàng.
Đi trên dây, nhảy nhót trên cọc thì nhiều người làm được; nhưng làm những việc đó mà vẫn thổi khèn, tiếng khèn vẫn đúng, vẫn lung linh hớp hồn người, thì quả là khó.
 |
| Hoàng A Đô thổi khèn trên dây tại Hội diễn huyện Bảo Lâm (Cao Bằng) năm 2008. | Chả trách ai đó tiếm phong Đô là "thần khèn".
Chàng trai Mông nào, xưa nay, cũng mê thổi khèn, mê thưởng khèn, có khi là khèn môi, khèn lá, có khi là cây khèn Mông truyền thống - thứ nhạc cụ hào sảng và hào hoa từ hình dáng đổ đi. Nhưng, đúng là tôi chưa từng thấy ai thổi khèn được trên cọc gỗ, trên dây thừng như Hoàng A Đô. Điều đáng nói nhất trong tài hoa đáng ngạc nhiên của Đô không phải là những kỷ lục về chơi khèn Mông mà em đã lập, không phải là những phần thưởng, những bằng khen, giấy khen. Mà đơn giản, em là một chàng trai Mông yêu ca hát, yêu võ thuật, sống hồn nhiên và vạm vỡ như con hoạ mi, như con báo gấm giữa hoang vu.
Trước khi đi hội diễn quốc gia đoạt giải Nhất, Đô đã được bố nuôi đưa đi biểu diễn tiễn người trăm tuổi về trời khiến cả làng cả bản rưng rưng xúc động, khiến nhiều "thần khèn" già nua ở bản Mông hậc hậc nhe hàm... lợi móm mém "thế là trước khi chết, đã có thằng để tao nhờ nó giữ các bài khèn cho bọn trẻ con của bản mình rồi".
Góc học tập của Đô ở Thạch Lâm, treo đủ bằng khen giải Nhất cuộc thi khèn Mông toàn quốc tổ chức ở Mộc Châu, Sơn La, năm 2006; giải quán quân tại các hội diễn ở Bảo Lâm, Bảo Lạc, sang tận Bắc Mê của Hà Giang và nhiều tỉnh lân cận; đấy là chưa kể bằng khen của ngành văn hoá, của Uỷ ban Nhân dân huyện Bảo Lâm.
Hoàng A Đô sẽ đi về đâu?
Ông Hoàng Văn Tu đã giành nhiều năm nghiên cứu nghệ thuật khèn truyền thống của người Mông, ông cần phải có một truyền nhân, và theo ông, người đó phải là Hoàng A Đô. Bởi ông nhìn thấy ánh lửa đó trong mắt Đô, từ khi cậu mệt nhoài trên nương trong tình trạng thất học... hồn nhiên.
Ngày dạy chữ, đêm về, ông Tu biểu diễn khèn đắm đuối, để cho cái giai điệu, cái chất hoang dã quyến say của khèn Mông ngấm vào Đô. Ông muốn Đô học khèn một cách tự nhiên. Lúc đầu là nhảy múa trên mặt đất. Co một chân, xoay người trong không gian, nhào lộn, đánh võ mà tiếng khèn không chùng không căng ngoài ý muốn của người nghệ sĩ.
Mất vài năm, khi đã thổi, đã múa được vô vàn bài khèn "nhiều lắm không kể hết", thì bắt đầu chơi bài khó. "Thổi, múa khèn, nó rèn luyện đạo đức, bản lĩnh sống, và cả thể lực (như tập võ nghệ) cho người ta. Lúc đầu tôi cho cháu biểu diễn khèn đi trên tấm ván to, tấm ván bé dần, rồi nó biến thành một sợi dây thừng, biến thành những cái cọc. Nó ngã nhiều, tôi cũng ngã nhiều, nhưng tập mãi thành quen" - ông Đô nói.
"Tại sao lại múa khèn trên cọc và trên dây mà không phải là hình thức nào khó hơn hoặc dễ hơn, hoặc không giống thế? - nhà giáo Hoàng Văn Tu quay lại đố nhà báo - Là vì đi trên dây thừng rất giống đi trên... cầu khỉ. Bản làng chúng tôi ở giữa hoang vu, chỉ có cầu bằng cây tre, cây gỗ bắc qua suối. Người đàn ông Mông suốt đời khoác khèn trên vai. Bài biểu diễn đi trên dây múa khèn, chính là điệu khèn vượt đèo vượt núi (tiếng Mông phiên âm ra là: Tành do đợ do hé")".
Theo lý giải của ông Tu, ông dạy Đô tập bài biểu diễn khèn tuyệt kỹ trên ba cái trụ gỗ nghiến cao cả mét, cũng là vì: ba cái trụ, là tượng trưng cho các cái cọc giết bò. Xưa, trong đám tang của người Mông, người thổi khèn đến cổng bao giờ cũng chăm chắm nhìn rồi nhảy nhót quanh (hoặc trên) ba cái cọc gỗ mà nhà có đám đã cắm để buộc con bò vào "hành quyết".
Người biểu diễn sẽ vừa dùng tiếng khèn, vừa hát bằng tiếng Mông, hỏi vì sao lại giết chết con bò. Rồi theo vết chân bò, theo các dấu hiệu giết bò, tìm ra nguyên nhân là vì: giết bò để làm cỗ - nhà ấy có người chết. Tiếng khóc ai oán cất lên. "Công chúng" xem và nghe khèn của Đô ngày càng đông. Từ tiếng khèn trong nhà đám, đến tiếng khèn biến hoá như ảo thuật ngoài bìa rừng, trên dây thừng, trên cọc gỗ nghiến chênh vênh của Đô, tất cả đều mang tải trong từng giai điệu những lớp lang văn hoá, tộc người quý giá.
Mỗi lúc ngành văn hoá huyện, tỉnh hay các hội diễn các dân tộc vùng cao phía Bắc, Đô lại được xe lưu động của đội chiếu bóng cấp huyện đón đi. Năm thì mười hoạ có một cuộc để Đô phô bày được công phu luyện tập của mình, còn lại, rời ánh đèn sân khấu, Đô chỉ có mây mù và những con đường dốc dác, nhọc nhằn của Thạch Lâm. Thật khó để nói rằng Đô sẽ thi đỗ đại học.
Hoàn cảnh khó khăn, bản làng mù mịt, học lực trung bình yếu, nhưng bù lại, Đô đã có tiếng khèn "đặc sản" có một không hai của mình. Thật phí phạm, nếu Đô học hết lớp 12, lại úp mặt vào núi cày cuốc kiếm ăn; rồi cơm áo nhọc nhằn sẽ làm Đô thấy những ngón "thần khèn" của mình trở thành vô tích sự.
Giờ đây, nếu có một Mạnh Thường Quân, có một sự phá cách, xé rào, biết "có khi biến có khi tòng" của địa phương và đơn vị hữu quan, thì có lẽ: Đô sẽ phát huy được tài năng. Khi ấy, tiếng khèn, nghệ thuật trình diễn khèn trên dây, trên cọc và nhiều "độc chiêu" mà thầy trò Đô đang công phu tập luyện nữa sẽ đến được với công chúng nhiều hơn, sẽ bay bổng hơn. Phần "được" sẽ thuộc về tất cả chúng ta.
Hơn nữa, làm như thế, cũng chính là chúng ta đã nâng cánh, đã nhân ái với một người trẻ có tài và biết khát khao cống hiến.
Sẽ có một sân khấu rộng hơn, để "thần khèn" Hoàng A Đô không chỉ biểu diễn giữa hoang vu tím rắt một màu sim mua cằn cỗi?
Đỗ Doãn Hoàng
|