Ban đầu, đường ngầm nối hầm trong nhà với hầm ngoài vườn, sau nối xóm này qua xóm khác, rồi qua ấp khác… Đến năm 1953, từ chiến hào chống giặc, nhân dân ấp Phú Hiệp, xã Phú Mỹ Hưng đào 500 mét địa đạo liên ấp, có ụ chiến đấu và hầm tránh pháo.
Ông Hà Văn Điệp còn gọi là chú Tám Điệp - nguyên Bí thư ấp Phú Hiệp, Xã đội phó xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi thời chiến tranh - là một trong những người đào địa đạo (lúc đó ông 18 tuổi). Chú Tám kể, sau Đồng khởi 1960, khoảng đầu 1962 lúc "các ông lãnh đạo Sài Gòn" (tức Khu uỷ Sài Gòn - Gia Định) rút về xây dựng cứ Hố Bò thì bà con xã này mới "theo hướng dẫn và tính toán của mấy ổng" đào một đường địa đạo chính gọi là "xương sống", đào toả ra nhiều nhánh, nhiều ngách, với hầm, ụ chiến đấu, có nơi nghỉ ngơi, làm việc... và nối với các ấp lân cận.
Phong trào thi đua đào địa đạo sôi nổi cả ngày lẫn đêm; trẻ thì đào, già đươn ky xúc đất, chặt trúc làm cù móc hăng hái. Ông Lê Văn Ốm tuổi ngoài 50 mà đươn mỗi ngày mấy chục cái ky trệt, làm nhiều cù móc cho đội quân đào địa đạo (bà con gọi ông là ông thần địa đạo). Dụng cụ đào là lưỡi cuốc mỏng, cán chừng 4 tấc dễ xoay trở trong lòng đất chật hẹp; tạo những đường ngầm cách mặt đất 1,5m, cứ 10m có một miệng hầm thông lên hình thành ụ chiến đấu.
Các cô gái kéo đất, nấu củ (mì), tiếp nước uống cho cánh thanh niên. Bí thư xã Sáu Cựu, Xã đội trưởng Sáu Đấu cùng sát cánh với bà con 4 ấp Phú Hiệp, Phú Thuận, Phú Lợi, Phú Hoà thi đua "tranh cờ đỏ, bỏ cờ xanh". Hai câu thơ, có lẽ nguồn gốc từ Tân Phú Trung thời bà con ở đó thi đua đào địa đạo, giờ được lan truyền động viên quân dân Phú Mỹ Hưng: "Kháng chiến dẻo dai nhờ khoai với củ. Đào hầm lủ khủ nhờ củ với khoai"...
Trong năm 1963, ấp Phú Hiệp đã có 6.000 mét địa đạo, so với toàn xã Phú Mỹ Hưng là 15.000 mét được gọi là hoàn chỉnh. Chú Tám Điệp nói: "Lúc này địa đạo không chỉ là đường ngầm chiến đấu, hay phòng ngự, mà còn là nơi trụ bám đánh giặc, là căn cứ địa trong lòng đất...".
Khu vực địa đạo ở xã Phú Mỹ Hưng sau này là khu địa đạo Bến Dược, là căn cứ Khu uỷ và Quân khu, được chia làm 3 khu vực: Khu dành cho cán bộ lãnh đạo cao cấp, khu vực hầm văn phòng, hầm hội họp và nơi đóng quân của Tiểu đoàn Vinh Quang, đơn vị bảo vệ căn cứ Khu uỷ. Các hầm âm trong lòng đất, cách nhau 50-70 mét, có kích thước 3-3,5 mét, nối các hầm là các đường địa đạo vòng vèo, ăn thông các ụ chiến đấu bên trên.
 |
| Nhiều học sinh tham quan địa đạo. |
Mỹ càn trận Cedar Fall (tháng 1.1967) ném bom, bắn pháo tan nát xóm làng rồi đưa mấy chục ngàn quân vô vùng tam giác sắt Hố Bò nhằm tiêu diệt căn cứ Khu uỷ và Quân khu. "Lúc mấy ổng rút đi, tụi tui cho mượn ghe qua sông rồi hỏi mượn lại được khẩu B40 với 3 trái đạn. Có B40, tụi tui ra chặn xe tăng Mỹ ở Ngã Ba Dược. Thằng em du kích bắn phát đầu trật chiếc M.113, tức mình quá tui giựt súng, chờ chiếc M.113 tới gần chừng ba chục thước, mới bắn. Xe tăng trúng đạn cháy nổ kinh trời. Tui bồi trái nữa gãy càng thằng xe ủi rồi lủi xuống địa đạo luôn" - chú Tám Điệp nhớ lại.
Cũng từ hệ thống địa đạo liên hoàn và nơi trụ bám vững chắc này mà chú Tám Điệp (Xã đội phó) và các tay du kích Phú Hiệp đã bắn hạ 10 xe M.113, bỏ xác lại Ngã Ba Dược 4 xe và 1 máy bay trực thăng đổ quân HU1B của lính Mỹ.
Ông Chín Tiền tức đại tá Nguyễn Văn Tiền - nguyên cán bộ Tổ chức Quân khu, hiện nghỉ hưu ở ấp Phú Lợi, xã Phú Mỹ Hưng - kể lại chuyện mình cưới vợ trong khu căn cứ địa đạo năm 1964: "Sau tổng kết chiến tranh toàn Miền lần 1, tui được cấp trên điều qua làm tổ chức cán bộ Quân khu, cơ quan đóng ở khu địa đạo bây giờ. Vợ tui là cán bộ phụ nữ ấp Phú Lợi, là ở ngay đây. Đi công tác, đụng nhau, tìm hiểu rồi cưới". Bà Chín Tiền tên thật là Lê Thị Hở, sinh năm 1945, lúc đó 19 tuổi, nói như khoe: "Đám cưới lớn lắm mấy chú ơi. Làm heo, làm bò! Có văn công huyện về hát...".
Hôm đám cưới ông bà Chín Tiền, ngoài lãnh đạo và gia đình hai bên, khách là các đơn vị C18, C Trinh sát Quân khu, C17 Quyết Thắng và đông đủ bà con trong ấp. Khách đông, đãi tiệc cả ngày...