Lý do đó, diễn đạt theo cách của Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Ngân, chính là: NB là một thị trường rất phù hợp với tu nghiệp sinh (TNS) và người lao động VN.
Hay nói như ông Trần Thế Vượng: Rất nhiều người trẻ tuổi ở VN khao khát được đến xứ sở của hoa anh đào, nơi có nền công nghiệp lớn bậc nhất thế giới để tu nghiệp...
Bài 1:
Không chỉ có nụ cười ở Sanseikogyo
Ghi chép ở Sanseikogyo
Nhật Bản đang chính mùa hoa anh đào nở. Hoa rực rỡ miên man khắp các con đường Tokyo, Osaka, Gunma..., ắp đầy trong khu vườn quốc gia Shinjuku Gyoen...
Giữa mùa hoa anh đào rộ nở ấy, chúng tôi - những nhà báo được đi cùng Bộ trưởng và Trưởng ban Dân nguyện đến NB - đã may mắn gặp được những người Việt - những TNS rất trẻ đang làm việc trong một nhà máy ở Tokyo - Nhà máy Sanseikogyo, chuyên sản xuất thiết bị cho xe hơi. Đó là Loan (quê ở Phước Long, Bình Phước), Khoa (quê quận 12, TPHCM), Lạc (quê Tam Bình, Vĩnh Long) và khoảng 7 chàng trai, cô gái nữa, tôi không thể nhớ hết tên.
Trong số các em, người đến NB tu nghiệp lâu nhất đã 2 năm rưỡi, người mới nhất chỉ 3 tháng. Họ đến NB qua nhiều công ty cung ứng khác nhau (Tradeco, Lasco...), nhưng hết thảy họ đều rạng ngời một niềm vui, hạnh phúc và vui hơn nữa là bất ngờ được gặp những người từ quê nhà sang thăm, mà toàn những người quan trọng (tất nhiên là không bao gồm cánh nhà báo 4 người chúng tôi).
Lê Hồng Lạc còn hồ hởi xin số điện thoại của đoàn để đến thăm trong thời gian ở Tokyo để đỡ nhớ nhà, dù em mới chỉ xa quê Vĩnh Long chừng 8 tháng. Em kể: Công việc ở nhà máy nhìn chung khá nhàn hạ. Em đang ở năm đầu tu nghiệp, nên trợ cấp tu nghiệp của em mới chỉ cỡ trên 600.000 yen (khoảng 600USD).
Tuy nhiên, kiếm được số tiền đó với một cô gái mới chỉ bước qua tuổi 20 chưa lâu quả là điều mà như em nói, em chưa từng nghĩ đến. Đến năm thứ hai và thứ ba, trợ cấp tu nghiệp sẽ tuần tự tăng lên vì khi đó các em đã có nghề.
Như trường hợp Vũ Đỗ Anh Khoa, tiền trợ cấp của em hiện đạt khoảng 850USD. Khoa thông báo vừa gửi tiền về cho bố mẹ xây nhà ở quận 12 (TPHCM). Em tiếc rẻ: "Chỉ nửa năm nữa là em về nước rồi, giá như chương trình tu nghiệp kéo dài thêm khoảng 2 năm nữa thì tốt biết mấy. Bây giờ bọn em đã có tay nghề khá, thu nhập lại khá cao...
Nhưng em đã dự định, với vốn tiếng Nhật và khả năng tay nghề của mình, em sẽ xin vào làm ở một công ty nào đó của Nhật ở TPHCM hoặc Bình Dương".
Chúng tôi đã vui lây niềm vui của các TNS ở Sanseikogyo. Đúng như những gì Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Ngân đã nói trong cuộc hội thảo "Giới thiệu chính sách mới về quản lý TNS" tại Tokyo ngày 15.4, rằng: Chương trình đưa TNS VN sang tu nghiệp tại NB từ năm 1992 đến nay, sau 16 năm đã chứng tỏ là một chương trình rất phù hợp (với cả VN và NB).
Bà nói thêm: VN là một đất nước có 85 triệu dân, nhưng có đến 46 triệu người trong độ tuổi lao động (thực tế này khác với NB, là đất nước có độ tuổi trung bình của người dân ở mức cao, lực lượng lao động ít - TG). Phát triển nguồn nhân lực là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của VN và vì lẽ đó xuất khẩu lao động là một giải pháp quan trọng vừa để đào tạo nguồn nhân lực, vừa giải quyết việc làm trong nước.
Bộ trưởng cho rằng, đưa người LĐ đến tu nghiệp ở một đất nước công nghiệp hàng đầu thế giới như NB, người LĐ không chỉ có thêm thu nhập, mà còn học hỏi được tay nghề, tiếp thu được tính kỷ luật và phong cách làm việc của người Nhật, trở về phục vụ đất nước...
Chúng tôi chợt nhớ đến dự định của Vũ Đỗ Anh Khoa: "Trở về làm việc cho một công ty nào đó của Nhật ở TPHCM hay Bình Dương". Con đường của em sẽ chính là con đường của nhiều thanh niên VN trong tương lai, đó là tiếp thu tinh hoa của thế giới về xây dựng quê hương.
Cũng trong cuộc hội thảo kể trên, Chủ tịch Tổ chức Hợp tác đào tạo quốc tế NB (JITCO) - ông Takano Toshio - vui mừng thông báo: Số lượng TNS VN đang tăng rất nhanh. Riêng năm 2007, số lượng TNS VN đã vượt qua Philippines, ngang bằng với Indonesia và chỉ đứng sau Trung Quốc (tổng số TNS VN đã đạt trên 30.000 người).
Tuy nhiên, theo ông Takano Toshio, chương trình này cũng còn tồn tại một số vấn đề, đặc biệt là việc TNS bỏ trốn ra ngoài làm việc bất hợp pháp. Năm 2007, mặc dù tỉ lệ này đã giảm rõ rệt, nhưng số lượng vẫn còn lớn.
Từ cuối năm 2007, NB đã tăng cường quản lý các DN có TNS nước ngoài. Lực lượng cảnh sát cũng tăng cường các chiến dịch truy quét và xử lý những LĐ bỏ trốn và chủ DN tiếp nhận LĐ bất hợp pháp.
Cũng với những lý do trên, trong cuộc làm việc với Bộ trưởng Tư pháp NB, Bộ trưởng Y tế NB cũng như với JITCO, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Ngân đã đề xuất: NB cần nghiên cứu tăng số lượng và mở rộng ngành nghề tiếp nhận TNS VN sang NB như y tá, các nghề trong lĩnh vực dịch vụ; tăng thời gian tu nghiệp tại NB từ 3 lên 5 năm, trong đó có 1 năm tu nghiệp và 4 năm thực tập kỹ năng; đề nghị cấp giấy chứng nhận về tay nghề, tiếng Nhật cho người LĐ sau khi hoàn thành hợp đồng để họ dễ tìm kiếm việc làm khi trở về VN; đề nghị phía NB có những biện pháp quản lý chặt chẽ và xử lý những DN tiếp nhận LĐ bỏ trốn ra ngoài làm việc bất hợp pháp...
Vẫn còn tình trạng "ăn xổi"
Gặp gỡ người LĐ, gặp giới chủ và thăm những nhà máy, chúng tôi không khỏi lo ngại, đó là vẫn còn tình trạng "ăn xổi" của một số DN VN. Đánh giá của cơ quan quản lý nhà nước và của chính các DN "làm" thị trường NB cho thấy, những công ty VN có uy tín đưa lao động sang tu nghiệp NB chỉ đếm trên đầu ngón tay: LOD, Lasco, Airseco, Suleco, Quốc Dân, Inmasco, AIC...
Một số DN khác dù không đưa được nhiều TNS nhưng cũng đã có những cố gắng tìm hiểu thị trường, đối tác, đầu tư mạnh mẽ về con người, cơ sở đào tạo, tuyển dụng...
Song song với đó, dù không nhiều, nhưng đã có những DN coi việc đưa TNS sang Nhật là "miếng ngon". Họ thu tiền đặt cọc nhiều (trên 10.000USD), tiền "ABC" cũng nhiều... và bỏ mặc TNS, thậm chí còn mong TNS trốn hợp đồng để mặc nhiên bỏ túi cả nghìn USD tiền đặt cọc... Số DN này, theo Cục QLLĐNN, chắc chắn sẽ không tồn tại được với cơ chế luật pháp về quản lý xuất khẩu lao động hiện nay.
Còn chuyện TNS bỏ hợp đồng hoặc trốn ở lại sau khi hết hạn hợp đồng, dù đã giảm đáng kể, song vẫn là chuyện "biết rồi khổ lắm nói mãi". Ở một khía cạnh nào đó, ấy cũng chính là sự "ăn xổi" của TNS: Thấy trước mắt mà không thấy hậu quả.
Về việc này, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Ngân cho rằng có trách nhiệm không chỉ của cá nhân TNS, của chủ sử dụng LĐ, mà còn do cơ chế của cả hai nước. Tuy nhiên, từ tháng 7.2007, Luật Người LĐ VN đi làm việc ở nước ngoài đã có hiệu lực, đã có những quy định rất chặt chẽ và xử phạt nghiêm minh người LĐ, DN vi phạm hợp đồng, vi phạm luật pháp VN cũng như luật pháp nước sở tại.
Kèm đó là hệ thống khá hoàn chỉnh các quy định khác về quản lý DN, quản lý TNS..., chắc chắn tình trạng trốn hợp đồng sẽ giảm và chấm dứt.
Còn một ý kiến không thể không đưa ra, đó là tiền đặt cọc (để đảm bảo không trốn hợp đồng) hiện nay TNS phải nộp là khá cao. Điều này tạo nên gánh nặng trước khi đi cho TNS (dù rằng đó vẫn là tiền của các em). Nhiều nhà phải vay lãi để cho con em được đi. Sức ép trả nợ nhanh cũng là nguyên nhân khiến các em trốn khỏi nhà máy tìm công việc lương cao hơn...
Nhiều quan điểm cho rằng, tiền đặt cọc chỉ nên ở mức 5.000USD và tối đa là 7.000USD. Dường như quan điểm này đang được cả phía ta và bạn ủng hộ. Và đó là một tin vui nữa với những ai có ý định đi tu nghiệp NB.
* * *
Lúc rời Sanseikogyo, tôi nói với Vũ Đỗ Anh Khoa: "Lúc nãy, em bảo chỉ còn có nửa năm nữa là phải rời NB, em bảo tiếc vì bây giờ mới là lúc tay nghề cao, lương thưởng cao, và muốn làm thêm khoảng 2 năm nữa...
Em không có ý định trốn ở lại thêm vài năm nữa đấy chứ?". Khoa cười: "Nhà báo lo xa hay cài bẫy em đấy? Chẳng đời nào em làm thế. Trốn chui trốn lủi để rồi nếu bị phát hiện thì trắng tay. Với tay nghề của em, em thừa sức xin việc làm ở VN; vả lại, nếu em muốn đi tu nghiệp tiếp vẫn được tạo điều kiện cơ mà?". Tôi thở phào nhẹ nhõm.
Bên nhà máy nơi Khoa và các bạn làm việc, những cây hoa anh đào cổ thụ nở rực rỡ. Hoa và hoa nối thành một con đường hoa ngút tầm mắt, rạng rỡ như nụ cười của các chàng trai, cô gái người Việt mà chúng tôi đã gặp, và sẽ thật khó quên...
>> Bài 2: Đến Nhật, học làm ông chủ
>> Cơ hội nghề nghiệp hấp dẫn tại Nhật Bản
>> Năm 2008, IMM sẽ đưa từ 500 - 1.000 tu nghiệp sinh sang Nhật Bản