Tin mới nhận:  
Đăng ký tin thư
  Email của bạn
  
  
Quảng cáo
Ba kiếp người trôi dạt trên sông
Lao Động Cuối tuần số 16 Ngày 20/04/2008 Cập nhật: 12:37 AM, 20/04/2008
Ba con người già nua và tàn tật cư ngụ dưới một mái thuyền đã nát.
(LĐCT) - 82 tuổi, từng cứu được 20 mạng người khỏi bàn tay Hà bá, có thể nói con đường gần một thế kỷ phiêu bạt sóng nước của cụ Oanh đã để lại ân nghĩa sâu dày với cuộc đời.

Những tưởng, khi đã ở vào tuổi gần đất, ông giời sẽ trả bằng những phúc đức bù đắp cho phận cò mò mẫm, ít ra là cho hậu thế...

Cuộc sống theo đuôi con cá

Tên cụ là Phan Đình Oanh, người Vạn Thụy An, gốc ở xã Tráng Việt từ 30 năm nay ngụ cư tại thôn Văn Quán, xã Văn Khê, Mê Linh, Vĩnh Phúc. Sinh năm 1926, năm nay tròn tuổi 82, nhớ đi nhớ lại thì cụ cũng chỉ còn mang máng là 5-6 hay 7 đời nhà mình đã sinh sống trên sông.

Chẳng ai nhớ được, cũng có thể là không còn thời gian mà để ý bởi kiếp phận sông nước truân chuyên. Cứ đời trước nhắc đời sau câu truyền kiếp: "Từ đời ông, đời cụ đã truyền dạy nghề lại". Cứ thế đến đời cụ, cả ba anh em đều đã có những tháng ngày mướt mải với cái đó, cái chài.

Năm 1948, cả Vạn Thụy có chục mái thuyền ngược sông tha hương lên mạn Việt Trì. Em trai cụ - Phan Đình Phong - xung phong đi bộ đội rồi hy sinh năm 1951 ngay dưới chân núi thơ Dục Thuý trong trận giao tranh ở chùa Non Nước, sau này được công nhận liệt sĩ.

Bản thân cụ Oanh cũng từng tham gia tiếp lương tải đạn cho chiến trường, từng trèo đèo lội suối cùng balô, xe thồ lên mãi chiến địa Điện Biên. Những ký ức đó, với cụ mà nói, giờ chỉ còn lẫn cẫn, mông lung. Duy cái nghề sông nước, vốn mặn chát giọt mồ hôi khắc khổ, cụ chẳng quên một chi tiết nào.

Hoà bình năm 1954, cụ Oanh lại trở về với bến sông. Và 30 năm trước, những thân đò Vạn Thụy kia lại một lần xuôi dòng hành hương về Văn Quán rồi ở lại tới bây giờ. Tiếp đó lại là những tháng ngày quần quật với sóng nước, thậm chí chẳng còn khái niệm đêm ngày, bởi cả đời lúc nào chẳng dập dềnh, lúc nào chẳng xáp mặt kiếm cơm.

Cả cụ bà (đã yên nghỉ vào cõi rong rêu) hồi đó cũng xăm xắn cùng chồng, cùng chung những nỗi nhọc nhằn của kiếp vạn chài, ngư phủ.

Có lẽ chẳng lời lẽ nào phác tả được hết nỗi cực nhọc, bần cùng. Khó lắm! Khổ lắm! Chừng như chỉ có thể than thốt lên như thế chan trong những hàng nước mắt mà thôi.

Thế nhưng, nỗi cơ hàn số phận dường như càng làm cho người ta thêm yêu đời và ham sống. Sự thiết tha ấy cụ Oanh dành cho mình thì đã đành.

Bao giờ thì giấc mơ lên bờ của bà Vinh, bà Sen (cận ảnh) mới trở thành sự thật?
Mà hơn thế nữa, cụ lại hồi sinh sự sống, gieo mầm sự sống cho biết bao con người xa lạ, những người cụ chưa từng biết. Trên khuôn mặt nhàu nhĩ những nếp nhăn qua sự cắt xẻ nhẫn tâm của thời gian, cụ già quá tuổi bát tuần cười mà rằng: "Những người được tôi cứu bây giờ nhiều người chết rồi".

Cụ cười như thế việc làm của mình thường lắm. Nhưng với 20 con người được cụ Oanh giằng lại mạng sống từ nơi sóng nước oan nghiệt kia, với gia đình, người thân, bè bạn của họ, đó thật sự là một nghĩa cử vô bờ. Mà nếu có làm một phép tính thì không biết là hành động lao thân cứu người của cụ đã mang tới hạnh phúc cho biết bao con người.

Ở Văn Khê bây giờ, bà Bến, bà Thìn và thằng nhỏ Nam vẫn mang ơn cụ, cứ dịp tết nhất là họ lại ngang đò ra sông cảm tạ ân nhân.

Thằng Nam, giờ 18 tuổi là người cuối cùng được cụ cứu. Hôm ấy nó chèo chiếc thuyền nan ra bãi hái rau lợn, gần quá giang thì thuyền lật. Không có cụ Oanh dìu nó khỏi cơn cùng quẫy, giẫy giụa thì có mà...

Ngày ấy trôi qua đã 4 năm, khi ấy cụ đã ở vào tuổi 78.

Tật nguyền vẫn chèo chống con thuyền


Những người sống trên mặt sóng từ bao đời nay vẫn rỉ rả truyền nhau những lời nguyền xa xôi nào đó của nghề. Lời tín tâm thì nhiều nhưng đại thể là cứu người bị thuỷ thần cướp mạng như là điều đại kị. Vì rằng, cuộc sống vạn chài suốt kiếp phải trôi dạt trên sông, truyền đời phải bám vào lòng sông kiếm con cá, con tôm.

Con sông rộng dài thật đấy nhưng đâu phải lúc nào cũng rộng lượng. Thế nên, cướp người Hà bá đã muốn... cướp có khác nào là thách thức?

Rồi sự khắc nghiệt của "nhất thuỷ, nhì hoả" sẽ trả thù vào mình. Vì vậy ai cũng sợ! Nhiều người đã không dám phạm huý những lời nguyền kiểu như thế. Và vẫn có người lấy những oan nghiệt số phận của cụ Oanh ra để mà minh chứng.

Phan Thị Vinh, Phan Đình Vang, Phan Thị Sen, ba người con cụ Oanh lần lượt ra đời. Ông Vang - con thứ hai của cụ - bảo mình năm nay đã sang tuổi 57 kém bà Vinh 3 tuổi và cũng hơn bà Sen 3 tuổi. Còn bà Vinh, bà Sen thì tịnh chẳng còn nhớ được tuổi tác của mình.

Câu chuyện cứ lan man, bà Sen nhắc đi nhắc lại câu nói: "Em chỉ biết mẹ bảo sinh mỗi đứa cách nhau ba năm". Nguyên nhân của cái sự quên lãng chính mình kia mãi rồi cũng tỏ: ba người con của cụ không ai có giấy khai sinh cả.

Bà Vinh, ông Vang chào đời trên những chiếc thuyền nát, bà Sen thì có đàng hoàng hơn, được sinh trong trạm xá xã.

Điều đáng nói thứ hai, ngoài ông Vang lấy rồi theo vợ lên bờ mua đất làm nhà, còn lại bà Vinh, bà Sen thì cả cuộc đời mình gần như rất hiếm khi được chạm bàn chân lên mặt đất.

Bà Sen bảo rằng mình được sinh ra trong trạm xá xã thì coi như một lần được lên bờ nhưng là được ẵm bế. Thế thì có thể nói rằng cả đời họ chưa bao giờ đặt chân lên mặt đất. Đó là sự thật, một sự thật đau lòng, sự thật về hai đôi bàn chân tật nguyền mà có người tin, nó bị ám bởi lời nguyền do ông cụ đã cả gan thách thức Hà bá để giành lại mạng của những 20 con người!

Phận vạn chài, vốn đã trăm bề nhọc nhằn bởi cái nghèo đeo đuổi thì với cụ Oanh lại thêm nỗi trớ trêu khi hai đứa con dị tật. Nhìn đôi bàn chân hai người con gái đã dứt ruột đẻ ra cứ teo tóp, thẳng đớn và thô kệch như hai khúc củi trôi sông, lòng cụ như bị xát muối. Nỗi đau bạc bẽo thế mà đã đeo bám gia đình cụ Oanh những hơn nửa thế kỷ rồi.

Dòng sông Hồng lúc cạn, lúc đầy không biết đã uống bao nhiêu dòng nước mắt của những con người tận khổ ấy. Cho đến bây giờ, khi mang câu chuyện của mình ra để kể với những người khách lạ, nước mắt vẫn trào ra nhức buốt.

"Hai chị em tôi có lẽ bị giời đày, mỗi người một phận nhưng cứ ngồi đó mà than vãn phỏng được gì?" - Bà Vinh nói thế để vào một câu chuyện khác. Có lẽ ít người hình dung ra được trên hai đôi bàn chân nguệch ngoạc, co quắp kia, hai người đàn bà đã sang nửa dốc bên kia của đời người đã vượt qua thách đố của số phận thế nào. Họ vẫn trải mình vào sóng nước để kế nghiệp cha ông. Đôi chân tàn nhưng đôi bàn tay không phế.

Bà Vinh bảo lớn lên là chị em bà cũng biết bơi, biết chèo thuyền như ai, dẫu rằng kỳ thực là khó gấp vạn lần người khác. Để rồi giờ đây, trên những chiếc thuyền côi cút, tuềnh toàng, họ cũng dọc ngang bến bãi mưu sinh khi người cha già tóc đã mờ, chân đã chậm. "Thôi thì ơn đức mẹ cha cao dày nhưng nay đã như chiếc bóng đèn, cái đã tắt, cái còn leo lét, chị em tôi phải gắng hết sức chứ cậy nhờ vào đâu. Cậu em lên được bờ rồi nhưng cháu con nheo nhóc, cũng khổ lắm".

Đôi chân tật bệnh vẫn dập dềnh mưu sinh.
Vì thế mà nghị lực phi thường của quyết tâm vượt lên số phận đều được dồn chắt vào hai đôi bàn tay xương xẩu cho những chuyến bươn bả sớm hôm. Sáng dậy từ 3 giờ, vật lộn với 300 cái đó đến mặt trời tỏ rõ, mùa này chỉ được non 3 lạng tôm, bán được chừng 15.000 đồng. Mùa mưa có khi phải đi từ 11 giờ đêm, nhiều hôm gặp nước lũ từ thượng ngàn về không trở lại được nơi trú.

Hai thân cò tần tảo là thế vẫn phải thường xuyên buộc bụng, có lúc nhịn đói khi một ngày họ chỉ ăn hai bữa vào 8 giờ sáng và 2 giờ chiều, ba con người trông vào nồi cơm chỉ thổi non một bát gạo.

Cũng may là từ tháng 1.2008 hai bà Vinh, Sen được hưởng trợ cấp tàn tật số tiền là 120.000 đồng/tháng, cụ Oanh được hưởng 240.000 đồng/tháng. Thế nhưng, từ ra Tết tới giờ, bữa ăn của họ chưa từng được thấy miếng thịt, trái lại nhiều khi chỉ trắng những cơm và muối...

Mòn mỏi ngóng bờ...


Có người đổ tại những nỗi dặm trường éo le trên đây là do Hà bá trả thù. Nói ra, cụ Oanh gạt phắt đi: "Bây giờ gặp người bị nạn, tôi còn cứu". Chẳng sợ gì ma mộc và chẳng tin vào những lời nguyền cụ tự đặt câu hỏi: "Người ta lâm nạn, mình có thể giúp lẽ nào lại dửng dưng bỏ đi sao?". Nhưng khi nhìn vào hoàn cảnh của hai người con gái, một nỗi đau lại đè nặng lên tâm trí.

Ông cụ ngồi bên bậu cửa nhìn ra mặt sông qua gần chục nóc thuyền ở Thụy An. Đôi mắt già nua kia nheo lại, như là ngóng vào phía bờ sông ấy. Xa hơn nữa là đất liền rồi, chỉ còn cách có một sải đò nữa thôi. Thế mà để lên bờ được, sao nó lại xa xôi thế?

Năm 1971, gia đình cụ cũng đã được lên bờ rồi đấy chứ nhưng chiếc thuyền đáp cạn chưa ráo nước thì nhà trên bờ đã sập bởi người ta cho đất ven sông, mùa lũ liền bị Hà bá ngoạm vào. Thế là lại dạt bến xuống đây.

Bây giờ, khi đã ở vào cái tuổi 82, cụ lại ngóng lên bờ. Bởi trên đó, ít ra nếu cụ khuất bóng, bà Vinh, bà Sen còn có thể tìm được chỗ mà bấu víu khi cũng đã ở vào cái tuổi xế bóng.

Bà Phan Thị Dễ - Bí thư chi bộ thôn Thụy An, Uỷ viên HĐND xã Tráng Việt - cùng ngồi nghe lại câu chuyện của cụ Oanh rồi báo một tin nửa vui, nửa buồn. Vui là vì huyện UBND huyện Mê Linh đã có quyết định trao đất làm nhà ở, diện tích 76m2 cho 12 hộ gia đình (trong số 24 hộ gia đình chưa có đất cứ trú) tại thôn Thụy An, xã Tráng Việt, trong đó có gia đình cụ Oanh (QĐ số 3067/ QĐ-UBND do Phó Chủ tịch Đỗ Minh Tuấn ký ngày 27.4.2007).

Nhưng buồn là dự án kè bờ sông để cấp đất làm được một nửa rồi dừng lại trước thông tin Mê Linh sẽ sáp nhập vào Hà Nội.

Ba phận đời trôi dạt trên sông từng ngày vẫn mòn mỏi ngóng bờ. Và hy vọng. Nhưng đến bao giờ?

Giang Hải

Quảng cáo
 
Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2006 Báo Lao Động - Cơ quan của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. All rights reserved.
Giấy phép số: 221/GP-BVHTT • Tổng Biên tập: VƯƠNG VĂN VIỆT • Phó Tổng Biên tập: Tô Quang Phán - Vũ Mạnh Cường
Địa chỉ: 15/167 Tây Sơn - Đống Đa - Hà Nội • ĐT: 04-5330304 - 5330305 • Fax: 04-5370141 Email: webmaster@laodong.com.vn
Báo mới - Tổng hợp tin tức tự động