Thế giới của báo cáo với Nhà nước, là những con số tròn và đẹp: Hiện 50% dân nông thôn được tiếp cận với nước sạch, 40% được tiếp xúc với các dịch vụ vệ sinh; 70% dân thành thị được dùng nước máy; hành vi, ý thức vệ sinh của người dân cũng được nâng cao...
Thế nhưng, từ khảo sát thực tế của Hội Cấp thoát nước VN tiến hành tại nhiều địa phương, có "tiếng nói" khác hẳn: 31% số hộ gia đình ở nông thôn vẫn dùng nước giếng khoan, 32% dùng nước giếng đào, 1,8% dùng nước mưa, 11,7% dùng nước máy và đáng nói hơn là có tới 11,6% uống nước lã - tập trung ở khu vực đồng bào dân tộc thiểu số... Báo cáo nêu 50% số hộ nông thôn có nhà vệ sinh, thì hoá ra, qua khảo sát, chỉ có 1/5 trong số ấy là nhà vệ sinh hợp tiêu chuẩn...
Nếu không có những cuộc điều tra, khảo sát đa chiều để phản biện, vạch trần những báo cáo không đúng thực tế, chắc không mấy người có thể ngờ rằng chính những con số đã được "làm đẹp" lại hàm chứa một căn bệnh trầm kha là bệnh thành tích, bệnh "làm đẹp". Nó khiến cho công tác chỉ đạo điều hành KT-XH bị sai lệch theo.
Không phải đến Ngày Môi trường thế giới, vấn đề nước và vệ sinh môi trường mới trở nên quan trọng. Những đợt bệnh tả bùng phát dữ dội ở các tỉnh phía bắc, căn bệnh chân tay miệng đang hoành hành tại nhiều tỉnh phía nam, đã cho thấy môi trường nước và môi trường vệ sinh là những con đường chính dẫn bệnh vào cơ thể. Ở một góc độ nào đó, bệnh "làm đẹp" những con số ở hai lĩnh vực này không khác gì sự che đậy cho dịch bệnh.
Vấn đề nước có sạch thật sự hay không, nhà vệ sinh có đúng tiêu chuẩn hay không, cũng chính là vấn đề của con người với việc định lập các tiêu chuẩn sống. Càng định lập tiêu chuẩn ở mức thấp cũng có nghĩa là chấp nhận điều kiện sống thấp và nguy cơ dịch bệnh cao. Nước sẽ không bao giờ sạch và nhà vệ sinh chẳng bao giờ đúng chuẩn vệ sinh, một khi còn những con người lập báo cáo có tư duy và tư cách chưa "sạch".