 |
|
Đại biểu HĐND Đặng Văn Khoa trưng ra bằng chứng cây cỏ bị bạc lá do tác động ô nhiễm tại KCN Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh. |
(LĐCT) - Hàng loạt các khu công nghiệp (KCN) từ năm này qua năm khác không trang bị hệ thống xử lý nước thải. Hàng trăm xe chở phân hầm cầu lén lút xả vào hệ thống kênh rạch đầu độc nguồn nước...
Có thể nói, thực trạng môi trường tồi tệ ở TPHCM là hậu quả của một lề lối quản lý theo kiểu giơ cao đánh khẽ, chẳng răn đe được ai.
Cha chung ai khóc?
Công tác quản lý môi trường trên địa bàn TP hiện nay có rất nhiều đầu mối. Sở Tài nguyên Môi trường (TN-MT) quản lý chung. UBND các quận, huyện quản lý môi trường theo địa bàn hành chính. Ban quản lý các khu chế xuất (KCX), khu công nghiệp (HEPZA) thì quản lý môi trường trong phạm vi các KCN, KCX và Sở Công nghiệp (nay là Sở Công thương) thì chủ trì chương trình di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường trong nội thành và gần đây là có thêm cảnh sát môi trường...
Nhìn chung, "sóng quản lý" đã phủ kín, thậm chí là chồng chéo lên nhau. Mặc dù nhiều đầu mối quản lý thế nhưng thiếu người chịu trách nhiệm cho từng vụ việc cụ thể. Xin đơn cử là việc quản lý các xe làm dịch vụ hút chất thải phân hầm cầu. Theo quy định hiện hành, phân hầm cầu được xếp vào nhóm chất thải nguy hại, phải được xử lý theo một quy trình nghiêm ngặt. Trên địa bàn TP có đến 130 xe đăng ký làm dịch vụ hút hầm cầu, con số không đăng ký có thể còn nhiều hơn, nhưng mỗi ngày chỉ có 30 xe là đến xả thải tại công trường xử lý chất thải của Cty TNHH xử lý chất thải Hoà Bình (địa chỉ duy nhất hiện nay trên địa bàn TP có thể xử lý được loại chất thải này). Hơn 100 xe còn lại hoạt động như thế nào, xả thải ở đâu thì chẳng ai biết!
Theo ông Nguyễn Văn Phước - Phó Giám đốc Sở TN-MT thành phố, kể từ tháng 5.2007 UBNDTP đã ban hành quyết định quản lý dịch vụ thu gom chất thải hầm cầu. Trong đó, quy định các xe làm dịch vụ hút hầm cầu phải đăng ký hoạt động tại các quận, huyện.
Trong khi đó, các quận huyện thì hầu như chẳng có thông tin gì về loại hình dịch vụ này chứ chưa nói gì đến việc quản lý. Tương tự, khi bị chất vấn vấn đề nước thải chưa qua xử lý của các KCN-KCX xả thẳng vào môi trường, Sở TN-MT cho rằng trách nhiệm chính là của HEPZA, sở muốn vào kiểm tra phải phối hợp với HEPZA...
Giơ cao đánh khẽ
Ngày 26.7.2008, UBNDTP đã có văn bản chỉ đạo giao Sở TN-MT chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công an TP, Ban Quản lý các KCX, KCN và UBND các quận, huyện liên quan tăng cường công tác kiểm tra và xử lý cương quyết các doanh nghiệp, các cơ sở, cơ quan đơn vị có phát sinh chất thải gây ô nhiễm môi trường; giao Sở TN-MT lập danh sách các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng buộc phải đóng cửa để báo cáo Thường trực UBNDTP trong vòng 20 ngày.
Đây là một thông điệp cứng rắn của UBNDTP đối với nạn gây ô nhiễm môi trường. Nếu như trước đây 10 năm TP hành động cứng rắn như những thông điệp đưa ra trong thời gian qua chắc chắn môi trường TP không đến nỗi tồi tệ như hiện nay. Bởi không phải đến bây giờ vấn đề môi trường TPHCM bị ô nhiễm nghiêm trọng mới được công luận, các nhà khoa học... lên tiếng báo động mà đã có từ 10 năm trước.
 |
| Mỗi ngày có hơn 100 xe phân hầm cầu đổ vào đâu không ai biết được. | Thế nhưng, TP đã không có các biện pháp quyết liệt và tương xứng với nhu cầu để bảo vệ môi trường. Về việc các doanh nghiệp chế biến caosu, dệt nhuộm và những ngành độc hại khác hoạt động tại KCN Tân Phú Trung gây ô nhiễm cho kênh An Hạ-Thầy Cai, Thanh tra Sở TN-MT sau nhiều lần xử phạt sau đó phúc tra thấy doanh nghiệp không chấn chỉnh đã đề nghị UBNDTP đóng cửa một số doanh nghiệp để làm gương thế nhưng biện pháp cứng rắn này đã không được chấp thuận vì sợ ảnh hưởng đến doanh nghiệp cũng như đời sống của công nhân.
Hậu quả của thái độ nhượng bộ, du di, thiếu kiên quyết đối với nạn gây ô nhiễm môi trường đã làm chậm những nỗ lực nhằm kiểm soát việc xả thải của các doanh nghiệp. Lẽ ra từ cuối năm 2006 các KCN, KCX trên địa bàn TP đã phải hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải tập trung. Mệnh lệnh ban ra là vậy, thế nhưng chẳng có mấy KCN, KCX thực hiện. Sau đó, TP gia hạn đến cuối năm 2007 nhưng đến cuối 2007 cũng không xong và cuối cùng là cuối năm 2008.
Tương tự, chương trình di dời cơ sở sản xuất gây ô nhiễm trong nội thành, đến cuối 2007 đã có 99% số cơ sở sản xuất nằm trong danh sách di dời đã chấp hành di dời hoặc chuyển đổi sản xuất.
Ngược lại với xu thế chung đó, Cty Kỹ nghệ súc sản (Vissan), nại khó, ù lỳ. Cuối cùng không biết bằng cách nào Cty này có được "bùa hộ mạng" cho phép gia hạn di dời của UBNDTP. Trong khi đó, chương trình do dời cơ sở sản xuất gây ô nhiễm trong nội thành đã được đưa vào Nghị quyết của HĐNDTP. Vì vậy UBNDTP muốn gia hạn cũng không được vì vượt thẩm quyền.
|
Ông Nguyễn Đăng Nghĩa - GĐ Trung tâm Chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật: Thiếu các giải pháp khả thi.
Nếu nói về việc cải thiện môi trường của TPHCM trong thời gian qua theo tôi là chậm lắm. Ô nhiễm môi trường trở thành một nguy cơ, hiểm họa cho sự phát triển bền vững. Nếu không có các giải pháp ngăn chặn hiểm họa ô nhiễm môi trường chúng ta tiếp tục trở thành nạn nhân của chính mình và là tội đồ của các tỉnh thành lân cận. Theo tôi, TPHCM đã có những ý tưởng tốt, mục tiêu tốt trong việc cải thiện môi trường nhưng thực hiện không cương quyết, thiếu giải pháp hoặc có giải pháp thì không khả thi nên không đem lại hiệu quả.
Ông Đặng Văn Khoa - Đại biểu Hội đồng Nhân dân thành phố: Không còn là nguy cơ.
Đối với ô nhiễm môi trường của TPHCM phải dùng từ "thập diện mai phục", trên trời, dưới đất chỗ nào, hướng nào người ta cũng phải đối diện với nó. Ô nhiễm môi trường không còn là một nguy cơ mà nó đã bước vào cuộc sống của người dân, âm thầm, lặng lẽ nhưng trĩu nặng để lại những di hại khôn lường.
Theo tôi, nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm môi trường là do những người có trách nhiệm đã không nhận thức đúng và đầy đủ tác hại của nó cũng như không đủ tầm, sâu sắc, không có cái nhìn dài hạn để nhận ra. Chúng ta mới chỉ đặt ra các mục tiêu ngắn hạn là tăng trưởng bao nhiêu, thu hút bao nhiêu vốn đầu tư trực tiếp... nhưng không nhìn thấy đằng sau những mục tiêu đó là cái gì.
Theo tôi hành lang pháp lý để bảo vệ môi trường hiện nay mặc dù là đôi chỗ còn thiếu nhưng như thế là quá đủ để hành động. Hành động bảo vệ môi trường của TP là cực kỳ yếu. Làm miễn cưỡng, làm vừa phải không tương xứng với pháp luật yêu cầu. Thậm chí là có sự nương nhẹ, bao che khiến dư luận không khỏi đặt vấn đề. Để xoay chuyển tình hình theo tôi là không khó, cứ căn vào luật mà làm, gây ô nhiễm thì bị đóng cửa. Đơn giản là thế nhưng không hiểu vì sao vẫn không làm được. Ngọc Huân ghi |
Đặng Ngọc
|