Tin mới nhận:  
Đăng ký tin thư
  Email của bạn
  
  
Quảng cáo
TS Frank Gerke - Trịnh Công Long:
"Trong tôi có một con người Việt Nam thứ hai"
Lao Động Cuối tuần số 34 Ngày 24/08/2008 Cập nhật: 8:59 AM, 24/08/2008
Frank Gerke - Trịnh Công Long.
(LĐCT) - Hoá ra Frank Gerke - Trịnh Công Long cũng thích làm thơ, và từng thấm thía "Trên cõi trần kiếp này không còn ai". Mê nhạc Trịnh, am hiểu văn học Việt Nam, TS Frank Gerke đến sống hẳn ở Hà Nội, và mới đây có ý định chuyển vào TPHCM.

"Bỗng thấy buồn như mây trước cơn mưa
Vì xa em cuối tuần trong im lặng..."

Bằng thứ tiếng Việt sành sỏi, anh từng làm cử toạ của buổi toạ đàm về nhà văn Nguyễn Quang Sáng phải ngạc nhiên, vì nắm khá kỹ và phân tích sâu sắc những tác phẩm của ông. Buổi sáng hẹn ở quán càphê, Long loay hoay với chiếc laptop gần nửa giờ, để trả lời xong xuôi mọi thư từ liên quan đến việc kinh doanh. Sau đó mới thở phào, vào chuyện.

Vừa âm thầm dịch sách, vừa làm giám đốc phát triển kinh doanh của Công ty Schenker (Đức), anh lấy thời gian đâu để làm thơ hay bù khú với bạn văn?

- Có chứ. Một truyện ngắn như của Phan Thị Vàng Anh hay Phạm Thị Hoài thì tôi có thể dịch sang tiếng Đức trong một ngày, nhưng những truyện dài như "Đất lửa" của Nguyễn Quang Sáng thì phải dịch khá lâu, mất thời gian và rất vất vả. Đến nay tôi đã dịch xong 1/3 cuốn này. Còn đi làm thì... ai mà chẳng phải làm một việc gì đó để sống. Tôi quen đã lâu và khá thân với nhà văn Nguyễn Quang Sáng, nhà thơ Nguyễn Duy. Bắt đầu từ dịch tác phẩm của họ mà đâm ra cảm mến và quý trọng.

Là tiến sĩ chuyên về văn học Trung Quốc, từng sống ở Hồng Kông và có vợ người Trung Quốc, vì sao anh lại sang VN?

- Tôi biết VN từ hồi còn bé, khi xem qua truyền hình về chiến tranh ở VN. Khi ấy, bố tôi giải thích cho tôi hiểu, vì sao xảy ra cuộc chiến. Tôi sinh ra ở TP Bremen (Đức), lớn lên ở đó, có một số người bạn VN ở trường trung học, vốn là người Hoa ở Chợ Lớn sang Đức nhập cư, nên cũng muốn học tiếng Việt vào cuối tuần để giao tiếp với họ. Ra trường, tôi vào đại học, lần lượt theo học chuyên ngành về văn học Trung Quốc, rồi đến Đông Nam Á, xã hội học, triết học và cả Việt Nam học tại đại học ở Bonn.

Năm 1993, lần đầu tiên tôi qua VN vì xin được học bổng của Viện Hàn lâm Đức nghiên cứu văn học VN để viết luận án tiến sĩ So sánh văn học VN và văn học Trung Quốc hiện đại (bảo vệ xong năm 2005). Tôi đọc nhiều tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Phan Thị Vàng Anh..., đồng thời làm quen với Nguyễn Quang Sáng.

Phải nói rằng không chỉ mê nhạc Trịnh Công Sơn thôi đâu, tôi còn có cảm giác mình là người VN đến 99%. Thậm chí, thứ tiếng Việt mà tôi học được bắt đầu từ quán thịt chó mộc tồn.

Anh nhìn nhận điểm khác biệt tiêu biểu nhất của hai nền văn học thời mở cửa là gì?

- Trong thời kỳ đó, các nhà văn Trung Quốc chia nhiều trường phái khác nhau. VN lại không rõ trường phái nào. Chính vì thế mà nhân vật nhà văn tiêu biểu cũng không nhiều. Tuy nhiên, khó có thể nói có nhiều khuynh hướng hay không có khuynh hướng nào là hay hay dở. 

Ở Trung Quốc rộ lên một thời khuynh hướng sáng tác về cách mạng văn hoá, về những sai lầm trong chính sách thời đó dẫn đến hiện tượng Thiên An Môn..., và có cảm giác nhiều nhà văn Trung Quốc đắm chìm vào đó quá. Dĩ nhiên, nhiều khuynh hướng thì đề tài, cảm hứng phong phú, có điều kiện phát triển hơn. Ở VN thời đó, có rất nhiều cuộc tranh luận ở nội bộ Hội Nhà văn.

So với Trung Quốc, một đất nước có nền triết học sâu rộng, thì nền tảng triết học ở VN còn ít cái riêng, chủ yếu du nhập về. Khi không bắt rễ từ một nền triết học, tư tưởng sâu rộng, thì ít nhiều văn chương cũng có những hạn chế nhất định. Tuy nhiên, tôi rất thích Nguyễn Huy Thiệp vì tất cả những tác phẩm của ông thời đó phản ánh được bước chuyển của xã hội VN.

Bảo Ninh cũng là một nhà văn thú vị, nặng về quá khứ, nhưng cách nhìn về quá khứ hoàn toàn khác, nhân bản, khách quan, về chiến tranh, về con người. Dĩ nhiên, anh ấy chịu ảnh hưởng của Erich Remarque hơi nhiều. Tương tự, Phạm Thị Hoài có cá tính, nhưng cũng chịu ảnh hưởng của một số nhà văn Đức.

Vì sao anh cho rằng giữa lớp nhà văn già VN và nhà văn sau này thời đổi mới có một sự ngắt quãng không liền mạch?

- Thời kỳ đổi mới xuất hiện nhiều nhà văn có cách viết khác hẳn với thế hệ nhà văn cách mạng. Họ khám phá những đề tài mà lâu nay ít người nói tới, những gì họ quan tâm, từ xã hội, tình yêu, tình dục, cách nhìn của họ cũng khách quan hơn. Một số nhà văn thế hệ trước, bao gồm cả Tô Hoài, hay Nguyễn Quang Sáng, cũng dần thay đổi cách viết. Đó cũng là quy luật.

Tuy nhiên, đáng tiếc là những khoảng tối chiến tranh dần bị bỏ quên, hoặc người viết về đề tài chiến tranh lại không khai phá cái mới hơn. Chính vì thế mà thiếu sự nối liền giữa hai thế hệ trong lịch sử văn học VN. Hơn thế nữa, VN có những đặc điểm riêng, đang trải qua một thời gian nặng về ý thức hình thái, cũng là điều dễ hiểu. Đây là thời kỳ cởi mở, phải có nhiều chiều tranh luận để tìm ra cách giải quyết những vấn đề của xã hội.

Ngoài những nhà văn phải đọc để nghiên cứu, anh thích nhà văn VN nào nhất?

- Tôi mê nhất Vũ Trọng Phụng. Ngoài ra, tôi cũng rất thích đọc Hồ Anh Thái với lối nói thẳng, giọng văn mới mẻ, viết để không phải phán xét hay khinh bỉ một ai. Không chỉ dịch thơ thiền Lý Trần, thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử... sang tiếng Đức, tôi đang xúc tiến việc dịch một số tác phẩm của nhà văn Đức sang tiếng Việt theo lời mời của nhà thơ Nguyễn Duy, như Herman Hess, Henrich Heiner hay Rainer Maria Rilke...

Còn nhà văn thế giới?

- Nhiều lắm. Nhưng nếu phải kể ngay thì có Gunther Grass, Dostoievsky, Balzac, Lỗ Tấn... Xuất phát từ một nền văn học lớn của thế giới, cho nên, dù một thời từng bị chia cắt hai miền, thì đến giờ văn học Đức đương đại vẫn có những nhà văn tài năng tiếp nối.

Tuy nhiên, ngày nay, mọi thứ không còn đơn giản như người ta nghĩ nữa. Đây là thời kỳ hết sức căng thẳng, chiến tranh xảy ra khắp nơi (khủng bố cũng là một dạng chiến tranh). Con người phải suy xét lại thế giới đang xảy ra vấn đề gì, vì sao có quá nhiều xung đột về tôn giáo như vậy. Cho đến lúc này, khi dịch "Đất lửa" của Nguyễn Quang Sáng, tôi vẫn tâm đắc vì tác phẩm này vẫn còn mang tính thời sự, dù là bối cảnh lúc ấy là một Nam Bộ nhiều giáo phái, tôn giáo.

Một tác phẩm văn học, đối với anh, thế nào là hay?

- Hình thức tuỳ theo tác giả chọn, quan trọng là nội dung phải có những xung đột bên trong. Điều quan trọng là người viết phải đứng ở trên tác phẩm của mình, nhìn cho được cái tổng thể. Người kể chuyện phải hiểu tác phẩm của mình, biết tác động của nó đến với độc giả, xã hội. Và dĩ nhiên, nhà văn phải công bằng và tác phẩm phải mang tính nhân văn.

Có thể nói gì về tình yêu nhạc Trịnh Công Sơn của anh?

- Khi chưa biết tiếng Việt, nghe nhạc của anh mà không rõ lời, tôi ngạc nhiên tự hỏi, vì sao bài hát của anh ấy nghe như nhạc dành cho trẻ con thế, giai điệu đơn giản, lặp lại, có âm hưởng vui tươi. Nhưng khi hiểu ra những ca khúc phản chiến nói về nỗi đau, chết chóc thời đó, tôi mới rùng mình: Hoá ra đó là xung đột từ bên trong nhạc Trịnh Công Sơn. Qua âm nhạc, hay văn học VN, tôi nhận thấy rằng người Việt có cách nhìn lạc quan để sống sót trong chiến tranh. Dẫu đau thương, mất mát, thì cuộc sống vẫn không thiếu tiếng cười, không thiếu điệu nhạc vui, vì lẽ đó.

10 năm đi về VN, thậm chí lấy vợ Việt, anh nghĩ gì về đất nước mình có duyên gắn bó?

- Lần đầu đến VN, tôi nghĩ, đất nước này nghèo quá. Cách suy nghĩ còn chưa thoáng. Nhưng đến bây giờ thì khá hơn nhiều. Nền kinh tế phát triển, kéo theo sự thay đổi về tư duy. Chẳng hạn, thời đó làm gì có từ doanh nhân, bây giờ thì đã được xã hội công nhận rồi. Tuy nhiên, trong lĩnh vực văn hoá ít biến chuyển hơn. Đặc biệt là lĩnh vực âm nhạc vẫn còn nghèo nàn. Một số văn nghệ sĩ trẻ nỗ lực đưa ra tác phẩm, nhưng vẫn chưa mang tính thuyết phục lắm.
 
Thế hệ trẻ có vẻ như ít đọc đi, nhưng đó là vấn để của nền giáo dục. Ở đây tôi muốn nói đến giáo dục trong gia đình và nhà trường. Nếu chương trình không phong phú, không hấp dẫn thì làm sao bọn trẻ thích đọc? Ngược lại, trong gia đình không có truyền thống đọc, không có phương pháp đúng để đọc cái cần đọc, thì con cái cũng lơ là sách vở.

Trong thời điểm này, không chỉ riêng VN, các nước trên thế giới đều lo phát triển kinh tế, lo đuổi theo giá trị vật chất mà quên mất văn hoá, đời sống tinh thần phía sau. Nhưng tôi tin rằng sẽ đến lúc những nhu cầu vật chất khi được thoả mãn thì nhu cầu về văn hoá cũng sẽ có sự thay đổi cơ bản.

Mê văn lẫn võ, Frank Long đến với môn Hán học xuất phát từ ước muốn trở thành võ sư karate. Từ võ mà bước sang văn lúc nào không hay. Lấy vợ Trung Quốc, li dị, rồi lại lấy vợ người Việt. Cái tên Long anh có từ thời sống ở Hồng Kông, nhưng mãi đến khi gặp nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, anh mới được ông đặt cho họ Trịnh. Frank Long chuẩn bị cho ra mắt tập thơ bằng tiếng Việt của anh. Anh đi lại giữa hai nền văn hoá phương Đông và thấy thích thú khi tìm thấy mình trong đó.

"Nếu trong tôi không có một con người VN thứ hai thì có lẽ, tôi đã không sống ở VN. Tôi có cảm giác mình không khác gì người Việt ở cách nghĩ, cách vui chơi, cách sống. Nếu có điều gì đó còn băn khoăn, thì tôi chỉ muốn nói rằng, người Việt cần độc lập hơn trong tư duy; độc lập thì mới làm ra cái riêng của mình. Nếu không sẽ dễ dẫn đến bắt chước, mượn tạm..." - Frank nói.

Nhật Lệ thực hiện

Quảng cáo
 
Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2006 Báo Lao Động - Cơ quan của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. All rights reserved.
Giấy phép số: 221/GP-BVHTT • Tổng Biên tập: VƯƠNG VĂN VIỆT • Phó Tổng Biên tập: Tô Quang Phán - Vũ Mạnh Cường
Địa chỉ: 15/167 Tây Sơn - Đống Đa - Hà Nội • ĐT: 04-5330304 - 5330305 • Fax: 04-5370141 Email: webmaster@laodong.com.vn
Báo mới - Tổng hợp tin tức tự động