Chỉ vì khâu điều hành dự án quá yếu kém, dự án kéo dài tiến độ và cuối cùng khoản vay này bị cắt.
>> Nguy hại hơn cả lãng phí!
Thiếu tầm nhìn
Tổng thể dự án cải thiện môi trường TPHCM chia làm 4 cấu phần, gồm: Tiểu dự án thoát nước Hàng Bàng (thi công lắp đặt các cống thoát nước cấp 2 và cấp 3 trên địa bàn quận 5-6 và 11 - ảnh hưởng đến lưu vực rộng 430ha); tiểu dự án xây dựng bãi chôn lấp rác số 2 tại khu liên hợp xử lý chất thải rắn Tây Bắc ở Củ Chi; tiểu dự án thu gom vận chuyển rác và xây dựng lò hoả táng và cuối cùng là tiểu dự án kiểm soát ô nhiễm công nghiệp, nâng cao năng lực và tăng cường thể chế, nâng cao nhận thức nguy hại và quan trắc chất lượng không khí.
Trong đó, tiểu dự án thoát nước Hàng Bàng và tiểu dự án xây dựng bãi chôn lấp rác số 2 tại khu liên hợp xử lý chất thải rắn Tây Bắc ở Củ Chi thể hiện nhiều yếu kém nhất trong công tác quản lý điều hành dự án.
Tiểu dự án xây dựng bãi chôn lấp rác số 2- khu liên hợp xử lý chất thải rắn Tây Bắc chỉ là giải pháp thay thế cho bãi chôn rác Đông Thạnh- Hóc Môn. Lúc đầu, bãi rác Đông Thạnh được cơ cấu nằm trong dự án cải thiện môi trường. Nhưng đến khi bắt tay vào thực hiện thì bãi rác Đông Thạnh đang đứng trước hàng loạt các vấn đề, buộc phải thay thế bằng bãi chôn lấp rác số 2 (theo chỉ đạo của Thành uỷ TPHCM phải đóng cửa bãi rác Đông Thạnh).
Do yêu cầu thay đổi địa điểm xây dựng bãi chôn lấp rác Đông Thạnh về Phước Hiệp (Củ Chi), nên báo cáo nghiên cứu khả thi (F/S) bãi rác mới phải được lập lại và trình ADB xem xét chấp thuận và trình Chính phủ phê duyệt. Ngày 13.8.2001, thành phố chỉ đạo di chuyển địa điểm đầu tư xây dựng bãi chôn lấp rác từ Đông Thạnh (Hóc Môn) sang Phước Hiệp.
Ngày 13.8.2004, Thủ tướng Chính phủ có văn bản chấp thuận đầu tư xây dựng dự án bãi chôn lấp rác số 2 tại Phước Hiệp, Củ Chi, thay thế cho dự án xây dựng công trường xử lý rác Đông Thạnh. Ngày 13.9.2004, thành phố có công văn đồng ý cho Sodexen khảo sát, thiết kế kỹ thuật cho tiểu dự án bãi chôn lấp rác số 2. Do không nhìn thấy được những vấn đề ngay từ đầu, cuối cùng buộc phải thay đổi địa điểm; việc thay đổi địa điểm đã ngốn mất khoản thời gian là 3 năm.
Thiếu chuyên môn, điều hành yếu kém
Đối với dự án thoát nước Hàng Bàng lại là một điển hình khác của việc quản lý điều hành yếu kém trong việc thực hiện các dự án. Cty thoát nước đô thị được thành phố giao lập F/S và sau đó được UBND TPHCM phê duyệt ngày 6.3.2001.
Tiếp đó, thành phố lập Dự án quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước thành phố đến năm 2020 - đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 19.6.2001. Sau khi quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước đến năm 2020 được phê duyệt, các cơ quan chức năng mới tá hoả khi phát hiện ra có chênh lệch độ cao tính toán của thuỷ triều tại các điểm Cầu Mé, Phú Lâm, Hậu Giang và Ông Buông, nên khả năng thoát nước của các tuyến cống (thuộc dự án thoát nước Hàng Bàng) bị hạn chế.
Để giải quyết tình huống này, buộc phải dẫn đến điều chỉnh F/S của dự án thoát nước rạch Hàng Bàng. Qua trường hợp này có thể thấy, thành phố xử lý cái riêng (tiểu dự án thoát nước rạch Hàng Bàng), nhưng lại không tham chiếu cái chung (quy hoạch thoát nước).
Đối với tiểu dự án thu gom, vận chuyển rác và lò hoả táng, ngày 5.10.2001, Thủ tướng phê duyệt F/S của dự án, xác định được 40/40 địa điểm đặt các trạm ép rác kín cho tiểu dự án. Tuy nhiên, do F/S được duyệt năm 2001 nên việc xây dựng các trạm trung chuyển các gói thầu thiết bị, máy móc, đầu ép rác của dự án không còn phù hợp với chủ trương xã hội hóa việc thu gom vận chuyển rác của năm 2006.
Tiểu dự án này bị chậm một phần là do "con rùa" hành chính. Tháng 4.2004, Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố có văn bản hướng dẫn cần chọn một cơ quan có chức năng thẩm định giá để thẩm định giá gói thầu E1, E2, E3 và E4 "mua sắm xe đẩy tay và thùng đựng rác" trước khi lập hồ sơ mời thầu.
Tháng 5.2004, Sở Tài chính có văn bản không nhận thẩm định giá, mà phần việc này thuộc trách nhiệm của Sở Xây dựng. Tháng 9.2004, Sở Xây dựng hướng dẫn phải trình Bộ Xây dựng thẩm định. Tháng 10.2004, Bộ Xây dựng có ý kiến không thẩm định. Sau khi xin ý kiến của UBND thành phố, Ban quản lý dự án liền gửi văn bản đến Bộ Tài chính và cuối cùng ký hợp đồng với Trung tâm Thẩm định giá của Bộ Tài chính. Như vậy, chỉ riêng việc thẩm định dự án phải mất 10 tháng mới chọn được đơn vị thẩm định giá thiết bị của các gói thầu nói trên.
Một dự án sử dụng vốn ODA bao gồm 4 tiểu dự án, thì trong đó đã có 3 tiểu dự án bị chậm tiến độ bởi những lý do không thuyết phục và cuối cùng làm cho toàn dự án bị chậm tiến độ, giải ngân không đạt kế hoạch dẫn đến việc cắt vốn của toàn dự án.