Sau khi phân tích và đưa ra những con số minh họa thực tế về tỉ lệ lạm phát của ta từ năm 2001 đến tháng 6.2008, TS Đỗ Quang Trị - ĐH Tôn Đức Thắng đưa ra quan điểm: Như một vài nhà kinh tế cho rằng nước ta đã điều hành chính sách tiền tệ hợp lý, nhưng lạm phát vẫn tăng cao là do chúng ta chưa dự báo tốt.
Và ông cũng đã đưa ra một số kiến nghị: Ngoài 8 nhóm giải pháp mà Chính phủ đưa ra thì theo tôi, ở lĩnh vực quản lý tiền tệ, cần sử dụng hai công cụ chủ yếu là lãi suất và nghiệp vụ thị trường mở một cách linh hoạt. Hai yếu tố "nòng cốt" này kết hợp với các công cụ còn lại sẽ giúp hạn chế việc cung ứng tiền, đồng thời thu hút bớt một lượng tiền đang lưu thông trong nền kinh tế theo từng thời kỳ nhất định...
Để kiềm chế lạm phát, NHNN cần áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt, điều này bao giờ cũng dẫn đến lãi suất tăng cao. Lãi suất tăng cao sẽ khiến cho tăng trưởng kinh tế chậm lại. Tuy nhiên, nếu chúng ta không chấp nhận mối quan hệ tự nhiên này, cố gắng áp đặt các biện pháp hành chính với kỳ vọng đạt được mục tiêu này mà lại không hy sinh mục tiêu khác thì sẽ rơi vào tình trạng "nửa vời". Từ đó có thể dẫn đến kinh tế nước ta trong năm 2008 sẽ rơi vào nghịch lý vừa suy thoái kinh tế và vừa lạm phát!
Cùng quan điểm với những phân tích của TS Đỗ Quang Trị, một giảng viên ĐH Kinh tế TPHCM - TS Bùi Hữu Phước đã phân tích thêm: "Riêng trong chính sách tiền tệ, ở VN sử dụng cùng lúc hai loại tiền tệ: VND và ngoại tệ (chủ yếu là USD), do đó NHNN khó kiểm soát hết lượng tiền lưu thông.
Ngoại tệ đổ vào VN với số lượng lớn, tốc độ nhanh bằng nhiều nguồn khác nhau như: FDI đạt khoảng 20,3 tỉ USD; FII (năm 2007 ước đạt 5,6 tỉ USD); kiều hối cũng tới 5 tỉ USD. Chi tiêu của khách quốc tế đến VN khoảng 3,3 tỉ USD, XK...
Mặt khác, Nhà nước tăng nhanh dự trữ ngoại tệ bằng cách bỏ ra một khối lượng nội tệ (khoảng 150.000 tỉ đồng) để mua khoảng 9 tỉ USD làm cho lượng tiền đồng trong lưu thông tăng cao đột biến. Năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa đến 10% nhưng tốc độ tăng trưởng tín dụng lại trên 40%.
Trong khi đó, NHNN hiện đang thể hiện sự lúng túng trong chọn chiều hướng và các biện pháp điều chỉnh tỉ giá đồng VN. Một mặt, Chính phủ muốn giá trị VND thấp để hỗ trợ XK, song điều này sẽ khiến gia tăng tình trạng lạm phát. Mặt khác, duy trì VND ở mức cao tuy có thể hạn chế XK, nhưng lại có tác dụng giảm nợ nước ngoài và kiềm chế lạm phát - vốn là ưu tiền hàng đầu của Chính phủ hiện nay.
Chính việc sử dụng các công cụ điều tiết vĩ mô một cách chưa hợp lý, theo kiểu "nước tới chân mới nhảy" mà chưa biết dự tính, phòng ngừa, đã dẫn đến tình trạng gây sốc đối với thị trường và đó chính là nguyên nhân dẫn đến lạm phát không những chưa được đẩy lùi mà ngày càng một tăng cao như hiện nay.
Trên cơ sở phân tích các nguyên nhân dẫn đến lạm phát thực tế ở nước ta, PGS-TS Nguyễn Ngọc Hùng - Phó trưởng khoa Tài chính nhà nước, ĐH Kinh tế - đã kiến nghị một số giải pháp khắc phục. Trong đó, điểm đầu tiên và cực kỳ quan trọng là thu hút tiền lưu thông về NH để giảm áp lực tăng giá.
Theo đó, các biện pháp mà NHNN đưa ra như tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc, nâng lãi suất huy động vốn, khống chế tỉ lệ cho vay đầu tư CK cần tiếp tục thực hiện và tạo sự đồng thuận. Ngoài ra, cần có sự linh hoạt hơn trong chính sách tỉ giá hối đoái và lãi suất, qua đó NHNN có thể phản ứng nhanh với những biến đổi trên thực tế.
Ngoài ra, những giải pháp như tiết kiệm triệt để chi tiêu ngân sách, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả hoạt động XK, đẩy mạnh sản xuất trong nước, tăng cường kiểm tra xử phạt tình trạng đầu cơ... cũng cần được triển khai đồng bộ.
Điều cuối cùng, cần đặc biệt chú ý là Chính phủ cần thực hiện cam kết chống lạm phát, đồng thời công bố công khai các biện pháp cụ thể để thực hiện cam kết là đáng tin cậy, ràng buộc Chính phủ vào cam kết đó. Điều này giúp người dân hình thành kỳ vọng về mức lạm phát thấp trong tương lai. Và khi họ biết, họ tin các chính sách là đúng đắn, cứng rắn. Hiệu quả tất yếu sẽ là chính sách chống lạm phát thành công dễ dàng hơn.