Bên cạnh đó, Chính phủ, Bộ NNPTNT có nhiều hướng dẫn thông thoáng nhằm giải ngân kịp thời cho ngư dân, Bộ Tài chính "rót" sẵn "tiền tươi". Vậy mà đến nay chỉ duy nhất Đà Nẵng là địa phương đưa được một ít tiền đến tay ngư dân...
684 triệu đồng trong số 2 ngàn tỉ đồng
Trong cuộc họp giao ban trực tuyến giữa Bộ NNPTNT và 26 tỉnh, thành có biển trên cả nước sáng 8.7, Bộ trưởng Bộ NNPTNT Cao Đức Phát tỏ ra "sốt ruột" trước việc các địa phương chậm trễ giải ngân - tiền hỗ trợ của Chính phủ đến cho ngư dân. Theo báo cáo của Bộ NNPTNT, đến nay chỉ có Đà Nẵng là địa phương duy nhất cả nước đưa tiền đến tay ngư dân, và cũng chỉ giải ngân được 684 triệu đồng trong tổng số 33 tỉ đồng của toàn TP. Đây là con số quá nhỏ so với số tiền gần 2.000 tỉ đồng mà Chính phủ quyết định hỗ trợ cho ngư dân cả nước. 25 tỉnh, thành còn lại mới ở giai đoạn triển khai... làm hồ sơ. Như vậy là quá chậm so với yêu cầu của Chính phủ.
Ông Cao Đức Phát nói: "Tôi truyền đạt lại ý kiến của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, việc giải ngân kịp thời để hỗ trợ cho ngư dân tiếp tục bám biển là nhiệm vụ hết sức quan trọng, Chính phủ đặc biệt quan tâm. Nó không chỉ giúp đỡ những khó khăn kinh tế trước mắt cho ngư dân tiếp tục ra khơi, đảm bảo an sinh xã hội mà còn có nhiều ý nghĩa chính trị, xã hội khác".
Chính vì thế mà Bộ NNPTNT đã ra công điện 30 (19.6.2008), chỉ đạo các địa phương xúc tiến ngay việc chi tiền hỗ trợ cho ngư dân mà không cần ra thông tư, hướng dẫn theo quy trình pháp lý như thông lệ". Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Trần Ngọc Quang cho hay, theo QĐ 289 của Chính phủ, toàn tỉnh phải chi 58 tỉ đồng cho ngư dân, đến nay Bộ Tài chính mới rót 40 tỉ đồng. Tuy nhiên, việc chậm trễ không phải ở nguồn tiền mà là thủ tục của ngư dân. Họ thiếu quá nhiều giấy tờ liên quan đến tàu cá và lịch trình ra khơi. Tỉnh sẽ cố gắng giải quyết trong tháng 7.2008. Đây cũng là lý do chung của hầu hết các địa phương.
 |
| Trên tàu 90072 của ngư dân Lê Văn Ninh, quận Liên Chiểu (ảnh chụp chiều 8.7). |
Lộ diện việc quản lý lỏng lẻo
Báo cáo các địa phương đều cho thấy nguyên nhân chậm trễ là vướng thủ tục hồ sơ không chỉ từ phía ngư dân. Đến nay, nhiều địa phương còn chưa nắm được danh sách cụ thể tên, tuổi, địa chỉ chủ tàu, số phương tiện, công suất máy... Nguyên nhân do quản lý lỏng lẻo, tình hình kiểm định tàu cá không nghiêm ngặt, thường xuyên; quy chế phối hợp giữa các ngành chưa đồng bộ... Vì thế, ngay việc xác định số lần, ngày giờ tàu ra khơi cũng không kịp thời.
Một nguyên nhân quan trọng khác, do biến động thị trường, giá nhiên liệu tăng cao, lãi suất vay ngân hàng tăng dẫn đến việc hàng loạt ngư dân bỏ biển, bỏ tàu nằm bờ. Theo Trưởng phòng Kế hoạch-Đầu tư - Sở NNPTNT Đà Nẵng Trần Phước Tài, trước khi có QĐ 289 của Chính phủ, tại Đà Nẵng có 40-50% trên tổng số 1.939 tàu cá tại Đà Nẵng nằm bờ. Sau khi có QĐ này, ngư dân trở lại biển đạt 85%-93%. Chính vì thế mà việc xác định thực tế chuyến ra khơi của ngư dân cũng chậm, dẫn đến việc chi tiền chậm trễ theo.
Theo báo cáo của Sở NNPTNT Đà Nẵng, sở dĩ việc chi tiền nhanh hơn các địa phương khác là nhờ quản lý chặt chẽ. Từ 3 năm trước 2005, Đà Nẵng đã phân cấp quản lý tàu cá cho từng quận, huyện rà soát và nắm kỹ danh sách nhóm tàu theo công suất (dưới 40CV, 40-90CV, 90-250CV...) để lồng ghép với các chính sách hỗ trợ như cho vay, cấp máy bộ đàm, đào tạo thuyền trưởng, máy trưởng, quy hoạch khai thác, tiêu thụ sản phẩm... Kinh nghiệm này của Đà Nẵng cũng được Bộ NNPTNT đề nghị các địa phương khác học hỏi mô hình để làm theo.
|
Quyết định 289/TTg của Chính phủ, ngày 18.3.2008 quy định mức hỗ trợ xăng dầu cho tàu cá là: 3 lần chuyến/năm cho tàu 90CV trở lên. Mức tối đa 8 triệu đồng/chuyến; hỗ trợ 4 lần chuyến/năm với mức 5 triệu đồng/chuyến cho tàu cá 40-dưới 90CV; hỗ trợ 5 lần chuyến/năm với mức 3 triệu đồng/chuyến cho tàu dưới 40CV.
Với định mức hỗ trợ như vậy, hiện ngư dân phản ứng vì bất hợp lý: Tàu công suất lớn, đánh bắt xa bờ, tốn kém gấp nhiều lần tàu nhỏ- đánh bắt ven bờ, lại không phù hợp chủ trương- nhưng được hỗ trợ thấp và ngược lại. Lý giải vấn đề này, Sở NNPTNT Đà Nẵng cho biết, chính sách này của Chính phủ mang nặng tính an sinh xã hội. Tuy không đúng với việc tiêu hao nhiên liệu giữa các tàu, nhưng hợp lý, hợp tình. T.Hải |