Hội thảo có sự tham gia của 31 LĐLĐ tỉnh, thành và các CĐ ngành phía nam, về chủ đề "Công đoàn với việc thương lượng ký kết thoả ước lao động tập thể (TƯLĐTT)- thực trạng và giải pháp".
Thực trạng
Theo thống kê của Tổng LĐLĐVN, tính đến hết năm 2007, số DN nhà nước có TƯLĐTT khoảng 93%; số DN FDI có 55%; số DN dân doanh 45%. Theo Phó Chủ tịch Mai Đức Chính: TƯLĐTT là cơ sở pháp lý do các bên thoả thuận về quyền thụ hưởng của NLĐ cao hơn những quy định của pháp luật.
Trước năm 1990, Nhà nước đã có quy định về hợp đồng tập thể trong các XN quốc doanh, đây là tiền thân của TƯLĐTT. Luật CĐ và Nghị định 233/HĐBT năm 1990 cũng đã quy định về CĐ thương lượng ký TƯLĐTT ở DN có vốn nước ngoài, được cụ thể hóa bằng thông tư số 19 (1990). Đến năm 1992, Chính phủ ban hành Nghị định 18/CP về TƯLĐTT, được hướng dẫn tại thông tư 05/BLĐTBXH (1993).
Năm 2004, Quốc hội thông qua Bộ luật Lao động (BLLĐ), đã dành hẳn 15 điều quy định về TƯLĐTT và được hướng dẫn, bổ sung nhiều lần sau đó. Tuy nhiên, kể từ khi BLLĐ có hiệu lực (1.1995) đến nay, việc thực hiện ký kết TƯLĐTT còn quá nhiều bất cập, không chỉ ít về số lượng mà còn thấp về chất lượng, thậm chí TƯLĐTT ở nhiều DN chỉ mang tính hình thức.
Đa số TƯLĐTT sao chép luật, rất hiếm những thoả thuận có lợi hơn cho NLĐ. Không ít DN còn đưa vào TƯLĐTT các nghĩa vụ của NLĐ mà không hề liên quan đến LĐ. Nhiều DN ký TƯLĐTT song không đăng ký, không cho NLĐ biết và cũng không thực hiện... Về nguyên nhân, các chuyên gia lao động CĐ đều xác định mục đích hoạt động DN là lợi nhuận, nên đương nhiên TƯLĐTT bị xem nhẹ.
Ai là đối tác?
Tại hội thảo, TS Chang-Hee Lee và ngài Jan Sunoo đã dành phần lớn thời gian để truyền đạt và giải thích 3 công ước quốc tế cơ bản về TƯLĐTT; những hình thức, hiệu quả và kinh nghiệm thương lượng ký kết TƯLĐTT ở nhiều nước trên thế giới. Riêng đối với VN, các ngài tỏ ra hiểu biết khá sâu về quan hệ LĐ và tình trạng đình công tự phát hơn 10 năm qua.
TS Chang-Hee Lee rất lấy làm tiếc, đã thốt lên rằng: "Đình công để gây sức ép là điều cần thiết, nhưng đó là biện pháp cuối cùng. Vì sao ta không thương lượng trước, khi không đạt mục đích mới đình công, mà lại thực hiện quy trình ngược? Hơn nữa, hầu hết các cuộc đình công tự phát đều không do CĐ lãnh đạo?".
Theo đó, TS Chang-Hee Lee đã truyền đạt và giải thích 5 bước của giải pháp "chuyển đình công tự phát thành thương lượng tập thể có trật tự". Tuy nhiên, có một thực tế ai cũng biết, nhưng hễ đề cập đến là lập tức đổ vấy trách nhiệm cho CĐ, đó là môi trường lao động ở VN khác hẳn các nước đã phát triển, ở chỗ: Các chủ DN công khai vi phạm quyền của NLĐ mà chẳng ai làm gì họ vì sợ ảnh hưởng đến môi trường đầu tư. Đó chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến đình công tự phát.
Đáng nói, có một thực trạng khiến không ít đại biểu dự hội thảo băn khoăn, cụ thể trước và trong các cuộc đình công, cho dù CĐ có muốn thương lượng để đạt được những yêu sách có lợi cho NLĐ thì cũng không có đối tác để thương lượng, bởi lẽ: Phần lớn DN xảy ra đình công là các đơn vị gia công hàng dệt, may, da giày, chế biến đồ gỗ... giá gia công do chủ hàng quyết định; DN muốn nâng lương, tăng tiền ăn cho NLĐ thì cũng phải do chủ hàng quyết định.
Đặc biệt, các đại biểu còn băn khoăn rằng: VN đã thành lập CĐ ngành dệt may, nếu muốn thương lượng TƯLĐTT cấp ngành thì lấy đâu đối tác, bởi hiện nay ở VN chưa có nghiệp đoàn giới chủ, trong khi Phòng TMCNVN không thể quyết định thay các chủ DN nếu đi ngược lợi ích của họ?