Với hệ điều hành Windows XP, chuẩn SATA hoàn toàn xa lạ. Khi cài WindowsXP, nếu không có ổ đĩa mềm, phần mềm điều khiển thiết bị thì trình cài đặt không thể nhận ra ổ cứng. Và thông thường người cài đặt sẽ chuyển tính năng SATA AHCI trong BIOS sang IDE.
Để bật trở lại tính năng SATA AHCI trong Windows XP mà không phải cài lại hệ điều hành, bạn cần:
1. Xác định chipset của bảng mạch chính. Bạn có thể tham khảo thông số của chipset ở sách, đĩa kèm theo hoặc sử dụng phần mềm CPUZ tải miễn phí tại www.cpuid.com. Sau đó, bạn có thể đối chiếu với danh sách các dòng Mainboard có chipset hỗ trợ SATA của nhà sản xuất. Trường hợp chipset Intel, các dòng hỗ trợ SATA gồm: ICH9R, ICH8M, ICH8ME, ICH8R, ESB2, ICH7DH, ICH7MDH, ICH7R, ICH7M, ICH6M.
 |
| Xác định chipset của bảng mạch chính. |
2. Tải phần mềm điều khiển thiết bị tương ứng tại trang web của nhà sản xuất. Với chipset Intel, bạn tham khảo Matrix Storage Manager tại downloadcenter.intel.com. Sau đó cài đặt theo hướng dẫn.
3. Khởi động lại máy. Vào BIOS Settings, chuyển chế độ SATA từ IDE sang AHCI. Nếu máy tính của bạn không khởi động được hoặc xuất hiện màn hình xanh “chết chóc” thì bạn cần phải chuyển lại thành IDE để cập nhật cho đúng driver ở bước trên. Nếu thành công, bạn sẽ thấy thông số SATA AHCI Controller xuất hiện trong IDE ATA/ATAPI Controllers.
Về lý thuyết, ổ cứng SATA2 cho phép trao đổi dữ liệu với tốc độ 300MB/s, SATA1 là 150MB/s còn IDE chỉ có thể đạt tối đa 133MB/s. Trên thực tế, để đạt được tốc độ cực đại còn phụ thuộc vào các chỉ tiêu kỹ thuật khác như bộ đệm, tốc độ vòng quay/phút của ổ cứng...