Tin mới nhận:  
Đăng ký tin thư
  Email của bạn
  
  
Quảng cáo
Xóa "vùng trắng"
Lao Động Cập nhật: 7:31 AM, 18/09/2006
Đàn bò của Lâm trường 42 (ảnh lớn). u Bộ đội Lâm trường 103 và đồng bào Dao chăm sóc chè.
(LĐ) - Có lẽ, ít người biết rằng, trên bản đồ hành chính nước ta có những xã biên giới phía bắc từng "trắng" dân.
Ngoài lý do "lịch sử để lại" sau năm 1979, thì đây là những địa bàn thâm sơn cùng cốc mà lâu nay vẫn coi là chốn khỉ ho, cò gáy.

Tôi đã có những ngày rong ruổi dọc bờ sông Ka Long trên vùng Đông Bắc để tìm hiểu về công việc của những người lính lâm trường quân đội. Họ đang gieo lại màu xanh trên biên cương, biến những vùng "đất trắng" thành khu dân cư đông đúc...

"Robinson" trên đất liền!
Nếu tính toán một cách vòng vo, cơ học, thì từ Hà Nội theo quốc lộ 18 lên thị xã Móng Cái (Quảng Ninh) dài gần 400km, rồi rẽ trái, men ngược dòng Ka Long khoảng 15 cây số tuyến đường vành đai biên giới sẽ tới "đại bản doanh" của Lâm trường 42 (thuộc Đoàn kinh tế - quốc phòng B.27, Quân khu 3). Từ đây vào khu chuồng bò còn chưa đầy 10km nhưng là đoạn "xương" nhất. Chiếc xe máy hiệu Dream đã cũ mà đại uý Hoàng Xuân Hưng - trợ lý chính trị lâm trường - mượn đèo tôi cứ oằn lên mỗi khi vào cua, tiếng xăm lốp "nghiến" mặt đường lực phực...

Cũng phải nói sơ qua để bạn đọc dễ hình dung. Đã nhiều năm nay, các đoàn kinh tế - quốc phòng (thuộc Bộ Quốc phòng quản lý) đứng chân trên vùng biên giới để thực hiện công cuộc khai hoang phục hoá, xây dựng cơ sở hạ tầng, tiến hành sản xuất nông - lâm nghiệp, giúp dân xoá đói giảm nghèo, từng bước bố trí lại các điểm dân cư, hình thành nên các làng, xã sát vành đai biên giới đáp ứng yêu cầu lâu dài về quốc phòng - an ninh. Nhiệm vụ của Lâm trường 42 cũng không ngoài mục đích đó.

Sau cú cúi người xốc ga, viên đại uý người Tày lạng xe vào chân một quả đồi rồi đưa tôi lên khu trại bò - nằm tại bản Cao Lan, thuộc xã Bắc Sơn (Móng Cái). Nơi đây không có một bóng nhà dân và hoàn toàn cách biệt với thế giới văn minh. Cả đội chăn nuôi chỉ có 5 người. Gặp tôi, thiếu tá Vũ Văn Nên - Đội trưởng và trung tá Phạm Hữu Phiến - Đội phó chính trị vui như đón người thân. Khi chủ và khách đã bén tiếng, tôi hỏi:

- Làm quản lý nhưng chủ yếu là với... trâu, bò, các anh có suy nghĩ gì không?

Trung tá Phiến trả lời trước:

- Thực ra, là chỉ huy nhưng chúng tôi phải làm tất cả mọi công việc như anh em khác.

Mới đầu cũng cảm thấy hơi mặc cảm, tự ti, nghĩ rằng mình là sĩ quan có số hẳn hoi, bỗng dưng trở thành cái anh chăn bò. Nhưng sau cũng quen dần. Tôi mới vào đây được hơn một năm. Còn anh Nên thì có mặt từ những ngày đầu...

Đội trưởng Vũ Văn Nên có nước da màu đồng hun, khuôn mặt thật hiền. Anh quê ở Đặng Lễ, Ân Thi (Hưng Yên), đã 23 năm trong quân ngũ, rong ruổi trên nhiều miền quê, đến năm 1999 thì theo lâm trường lên đây. Anh kể rằng, ngày ấy, khu trại bò còn heo hút lắm, lán trại dựng tạm, thực phẩm, nước uống phải đem từ ngoài vào. Gặp đợt lũ về cắt đường tiếp phẩm, nhiều bữa anh em phải ăn cơm với muối trắng. Ngày ngày, mọi người thay nhau đi chăn bò. Vào mùa khô, cỏ ít, phải lùa bò vào sâu trong rừng, đến khi "thu quân" về trại cũng gần 9 giờ tối, lúc ấy mọi người mới tắm rửa, ăn cơm.

Có năm nhiệt độ xuống thấp, anh em bảo nhau đốt lửa sưởi ấm cho bò. Đàn gia súc được ấm, còn các anh khi ngủ vẫn lạnh thấu xương. Đã hơn 7 năm rồi, thiếu tá Nên làm việc tại đây, trong đó có đến 4 năm anh tình nguyện ở lại ăn Tết cùng... đàn bò. Mùng 1 Tết, khi các gia đình rôm ran đoàn tụ bên mâm cỗ cúng gia tiên, thì anh lặng lẽ lùa đàn bò vào rừng...

Tôi bỗng nhớ lại lời kể của đại tá Nguyễn Đức Mạnh - Tham mưu trưởng, Phó đoàn trưởng Đoàn kinh tế - quốc phòng B.27: "Ngày còn làm Giám đốc Lâm trường 42, một đêm đông, khi xuống kiểm tra khu trại bò, tôi bỗng nghe thấy tiếng nấc rất khẽ phát ra trong màn. Lại gần, té ra một đội viên bí mật trùm chăn để... khóc. Tôi cao giọng: "Cậu nào không chịu đựng được thì viết đơn đi, tôi đề nghị lên trên cho ra quân". Làm chỉ huy, lúc cần thiết thì nói rắn vậy, chứ nghĩ lại thấy thương anh em vô cùng. Nói thật, nếu không kiềm chế thì chính tôi lúc đó cũng sẽ bật khóc...".

Cuối cùng thì không có người nào viết đơn xin ra quân. Sáng ra, họ lại vui vẻ lùa bò vào rừng. Sự lao động lặng thầm của các chàng "ngự lâm" đã đem lại kết quả thiết thực. Hiện nay, lâm trường đã có đàn trâu, bò hàng trăm con, 52 con bò giống đã cấp cho các hộ dân di cư "làm vốn". Tôi bỗng vẩn vơ nghĩ, những người lính Lâm trường 42 giống như nhân vật huyền thoại "Robinson" cô đơn trên hoang đảo, vẫn ngày ngày lặng lẽ gây dựng cuộc sống. Nhưng cao đẹp hơn, đó là họ sẵn sàng làm chàng "Rô" một cách chủ động, tự nguyện để góp phần vào công cuộc xoá vùng "trắng" dân trên vùng biên cương xa xôi...

Tôi được biết, trước đây, địa bàn mà Lâm trường 42 hoạt động có 4 xã là Pò Hèn, Thán Phún, Lục Phủ và Tràng Vinh, do lịch sử để lại, sau năm 1979, dân số nơi đây chỉ "gom" đủ một xã là Hải Sơn, nhưng sống sâu trong nội địa, dọc tuyến biên giới hàng chục kilômét hoàn toàn "trắng" dân. Với sự đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cùng những nỗ lực không mệt mỏi của cán bộ, công nhân viên Lâm trường 42, đến nay, số hộ di dân của xã Hải Sơn là 343 hộ với hàng nghìn nhân khẩu. Do dân cư tăng, nên mới đây, địa bàn này được tách thành hai xã là Hải Sơn (mới) và Bắc Sơn.

Những người "khai sơn, phá thạch"
Mặc dù đã 75 tuổi, nhưng nhìn Trưởng bản Tăng Phúc Sìn còn khá tráng kiện. Bắp tay ông vẫn còn săn, bước chân đi thoăn thoắt. Chiều hôm đó, trưởng bản đã kể cho tôi nghe về cái nơi mà gia đình ông và 44 hộ dân với gần 300 nhân khẩu đang sống tại bản Mốc 13, ngay sát con sông Ka Long, bên kia là đất bạn Trung Quốc.

Hơn mười năm trước, nếu đi từ thượng nguồn sông Ka Long, gần cột mốc biên giới 16 (cũ), thuộc địa phận xã Quảng Đức, xuôi xuống xã Quảng Sơn, qua Pò-Hèn, Mai Lục Chắn, Thán Phún, Phẹc Nả, Phình Hồ, hàng chục kilômét không một bóng nhà dân. "Ta sống ở đây đã lâu. Bản ta ít người lắm. Đất thì rộng, người thì ít, nên dân tứ xứ tự do sang thả trâu, đốn củi, phá rừng...

Từ ngày có cái bộ đội lâm trường về đây, nhiều hộ từ phía trong xã ra đây sinh sống. Nó giúp dân bản ta làm nhà, làm đường, hướng dẫn cách cấy lúa nước, trồng quế, trồng hồi, cho cả cây giống, bò nuôi...". Trưởng bản Tăng Phúc Sìn vừa chiêu một chén trà, vừa khề khà nói với tôi như vậy.

Những điều mà trưởng bản Sìn kể chính là về "cái bộ đội" Lâm trường 103, (cũng thuộc Đoàn kinh tế - Quốc phòng B.27). Đứng chân trên địa bàn hai xã Quảng Đức và Quảng Sơn từ năm 1999 đến nay, cán bộ, công nhân viên Lâm trường 103 thực sự là những người "khai sơn, phá thạch". Cả một vùng biên địa rộng hàng nghìn hécta, phần lớn để đất đai hoang hoá, cây dại mọc lút đầu.

Ngồi trên xe Uaz, trên con đường mới được mở rộng, xuống thăm bản Khe Lếnh, thượng tá Nguyễn Tiến Dũng - Giám đốc Lâm trường 103, chỉ tay nói với tôi: Anh nhìn kìa! Đó là khu trồng 10 hécta chè của lâm trường, tiếp đó 40 hécta của bà con bản Khe Lếnh mới di cư, phần còn lại là 5 hécta của người dân bản địa. Được như hôm nay cũng gian nan, vất vả lắm anh ạ.

Tôi nhìn theo tay anh chỉ. Cả một vùng đồi ngút ngàn màu xanh của chè. Việc lâm trường vỡ đất, khai hoang, phục hoá trồng chè, trước hết là để "thao diễn" mô hình, nếu thấy hiệu quả mới hướng dẫn cho bà con phương thức canh tác, thu hoạch, mục đích là để khi đưa dân ra sinh sống có nguồn thu nhập. Không chỉ có trồng chè, lâm trường đã trồng và chăm sóc gần 124 hécta thông mã vĩ, khoanh nuôi, bảo vệ 1.919 hécta rừng, cùng nhiều loại cây khác như quế, hồi, vải... Nay, bản Khe Lếnh đã có 40 hộ dân từ huyện Ba Vì (Hà Tây) và 15 hộ người Dao nội vùng ra sinh sống. Hướng tới, lâm trường 103 sẽ mở rộng khoảng hơn 200 hécta đất trồng chè, phấn đấu đưa 200 hộ dân ra sinh sống ven khu vực thượng nguồn sông Ka Long.

Vùng biên địa hồi sinh!
Đó là điều khẳng định của tôi sau một tuần rong ruổi dọc bờ sông Ka Long, được tận mắt chứng kiến sự đổi thay kỳ diệu trên mảnh đất này.

Với 5 lâm trường quân đội đang hoạt động trên dải biên cương Đông Bắc dài gần 133km, sau gần 7 năm, Đoàn kinh tế - quốc phòng B.27 đã lập nên kỳ tích: Trồng và chăm sóc 2.214 hécta rừng, bảo vệ 1.919 hécta rừng tự nhiên, đưa 1.287 hộ dân ra sinh sống tại 118 xã giáp biên giới nước bạn, chưa có hộ nào "hồi hương", khôi phục lại hai xã hoàn toàn "trắng" dân, xây dựng kết cấu hạ tầng, hướng dẫn bà con các dân tộc phương thức canh tác mới, phát triển đời sống kinh tế - xã hội, nâng cao trình độ dân trí, từng bước hình thành nên vùng "phên giậu" vững chắc tại vùng biên giới.

Chia tay, tôi nhớ mãi câu nói của đại tá Từ Ngọc Thạch - Đoàn trưởng Đoàn kinh tế - quốc phòng B.27, người đã bao năm lăn lộn, trăn trở cùng mảnh đất này: "Chúng tôi sẽ bên dân, giúp dân, quyết tâm xây dựng vùng "đất trắng" trở thành những khu dân cư trù phú". Tôi hiểu điều ông nói. Bộ đội bên dân, giúp dân - dân bám biên, giữ đất, đó chính là cuộc đồng hành son sắt vì màu xanh bình yên và thịnh vượng lâu dài cho đất nước.
Lê Thiết Hùng

Quảng cáo
Thông báo Ngày hội việc làm Báo Lao Động - Interserco
 
Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2006 Báo Lao Động - Cơ quan của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. All rights reserved.
Giấy phép số: 221/GP-BVHTT • Tổng Biên tập: VƯƠNG VĂN VIỆT • Phó Tổng Biên tập: Tô Quang Phán - Vũ Mạnh Cường
Địa chỉ: 15/167 Tây Sơn - Đống Đa - Hà Nội • ĐT: 04-5330304 - 5330305 • Fax: 04-5370141 Email: webmaster@laodong.com.vn
Báo mới - Tổng hợp tin tức tự động