>> Cơ hội vàng cho những cặp vợ chồng hiếm muộn
>> Những em bé đầu tiên ra đời bằng nuôi cấy tinh tử
- BS khẳng định kỹ thuật IVM ưu việt khi triển khai tại Việt Nam (VN), vậy các nước có nền y khoa tiên tiến đánh giá kỹ thuật này như thế nào?
- Trong 2 ngày 12 và 13.12, tại Monza (Italia), lần đầu tiên VN được mời tại Hội nghị toàn Châu Âu "Kỹ thuật nuôi trứng trưởng thành trong ống nghiệm (IVM)" lần thứ 1. Các báo cáo tham luận của các chuyên gia đều khẳng định: kỹ thuật IVM trong tương lai sẽ phát triển và thay thế phần lớn các trường hợp thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) cổ điển hiện nay. VN cũng đã được mời tham gia nghiên cứu đa trung tâm về các bé sinh ra từ kỹ thuật IVM trên toàn thế giới. Nghiên cứu này do Giáo sư R.Cheng Chian và Seang Lintan thuộc Đại học McGill (Montreal, QC, Canada) làm chủ nhiệm đề tài.
Tại hội nghị ở Monza, các số liệu đưa ra cho thấy, trong khu vực Đông Nam Á, nhiều năm gần đây, một số Trung tâm lớn đã đầu tư triển khai thực hiện IVM nhưng đều thất bại do chưa xây dựng được phác đồ phù hợp dẫn đến tỉ lệ thành công thấp. VN là một trong 5 quốc gia đi đầu thế giới về kỹ thuật IVM bao gồm: Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Italia, VN. Trước đó, các chuyên gia VN cũng đã được mời báo cáo kết quả áp dụng kỹ thuật IVM nhiều lần tại nước ngoài trong 2 năm 2007, 2008: Pháp, Thái Lan, Singapore, Indonesia.
- Bác sĩ đánh giá về mức độ thành công của VN khi áp dụng kỹ thuật này?
- Em bé đầu tiên từ kỹ thuật này tại VN chào đời vào năm 2007, ước tính hiện nay, số em bé sinh ra từ kỹ thuật IVM ở VN chiếm khoảng 4-5% tổng số khoảng 500 em bé IVM trên toàn thế giới. Số em bé từ kỹ thuật IVM tăng nhanh ở VN do tỉ lệ thực hiện thành công đối với kỹ thuật này khá cao.
Kỹ thuật IVM có thể được áp dụng cho tất cả các đối tượng bệnh nhân có chỉ định làm TTTON như phụ nữ lớn tuổi, đáp ứng kém với kích thích buồng trứng, chất lượng phôi xấu với TTTON thông thường, TTTON - xin trứng... Tuy nhiên, nhóm bệnh nhân thành công cao nhất và có nhiều lợi ích nhất từ IVM là những người có hội chứng đa nang buồng trứng.
Kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy, không có sự khác biệt về cân nặng lúc sinh, sự phát triển tâm thần, thể chất và vận động của nhóm trẻ sinh ra từ kỹ thuật IVM so với nhóm trẻ sinh ra bằng TTTON và tự nhiên.
- Tỉ lệ thành công dựa trên số liệu thực tế nào, thưa ông?
- Theo số liệu nghiên cứu từ tháng 7.2007 đến tháng 4.2008 của nhóm thực hiện đề tài cho 104 bệnh nhân có hình ảnh buồng trứng đa nang với 104 chu kỳ điều trị bệnh cho thấy, số trứng chọc hút trung bình là 14,5, tỉ lệ trứng trưởng thành là 72,3%. Tỉ lệ thụ tinh bình thường là 71,2%, tỉ lệ thai lâm sàng và tỉ lệ làm tổ của phôi thai lần lượt là 29,8% và 8,6%.
- Vấn đề hạn chế còn tồn tại đối với kỹ thuật này?
- Phác đồ IVM vẫn còn nhiều điểm cần phải được cải tiến do tỉ lệ làm tổ của phôi còn thấp hơn so với TTTON thông thường. Để đạt được tỉ lệ có thai như trên, đa số các trung tâm phải tăng số phôi chuyển cao hơn so với các trường hợp TTTON bình thường. Điều này được đa số ý kiến cho rằng cần thêm nhiều nghiên cứu để tìm hiểu thêm về quá trình trưởng thành của trứng nhất là giai đoạn trưởng thành về tế bào chất.
- Xin cảm ơn ông!