Tưởng như các anh mãi mãi sẽ là "LS chưa biết tên". Thế nhưng, những người đang sống đã và đang làm phần việc tưởng như không thể làm, đó là trả lại tên cho các anh - thông qua chương trình "Giám định gene - trả lại tên cho liệt sĩ" - do Báo Lao Động phát động và chủ trì thực hiện từ nguồn kinh phí của các tổ chức, cá nhân đóng góp...
Sáng sớm 27.9, tại NTLS huyện Đức Huệ (Long An), nhiều người chứng kiến một sự kiện, 7 ngôi mộ LS chưa biết tên của Trung đoàn 271 hy sinh 35 năm trước cùng lúc được khai quật để phục vụ việc giám định gene. Các cơ quan khoa học quả quyết rằng, chỉ cần chưa đầy tháng, họ sẽ trả đầy đủ tên tuổi, quê quán cho 7 LS.
Chuyện buồn ở đại hội chiến sĩ thi đua
Đêm 16.4.1973 không trăng. Trên con đường mòn cặp biên giới Việt Nam - Campuchia thuộc xã Mỹ Thạnh Tây - huyện Đức Huệ, có một nhóm quân giải phóng đang chuẩn bị vượt biên giới. Họ gồm 10 người, là những cán bộ, chiến sĩ thuộc Trung đoàn 271 - Sư đoàn 5 được bầu chọn đi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua cấp miền ở căn cứ Ba Thu (trên nước bạn CPC). Thế nhưng các anh mãi mãi không đến được đại hội vì đã rơi vào ổ phục kích của đối phương tại rìa ấp Mỹ Lợi, chỉ một chiến sĩ thoát...
Trong số 9 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, đối phương đã đem đi hai thi thể, ngày hôm sau bộ đội và nhân dân địa phương tìm được 7 thi thể và chôn cất theo đội hình hàng dọc tại nơi các anh hy sinh. Năm 1982, 7 ngôi mộ được quy tập đưa vào NTLS và trở thành mộ chưa biết tên như hàng ngàn ngôi mộ khác ở nơi đây. Lúc ấy, những người khai quật không hề biết được rằng, người chiến sĩ duy nhất thoát chết trong trận phục kích nói trên tên là Thành đang giữ sơ đồ 7 ngôi mộ với tên tuổi đầy đủ.
Hành trình tìm mộ người thân
Vào giữa năm 1973, cụ Nguyễn Đăng Xuân (xã Hương Phúc, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh) nhận được giấy báo tử người con trai cả tên Nguyễn Đăng Khoa (SN 1950) đi chiến đấu miền Nam từ tháng 12.1969. Sau ngày giải phóng, theo thông tin rất chung ghi trên giấy báo tử: "Hy sinh ở chiến trường miền Nam", cụ Xuân đã nhiều lần vào Quảng Trị và các tỉnh miền Trung tìm "cầu may" mộ con ở khắp các NTLS lớn nhỏ, kể cả NTLS Quốc gia Trường Sơn. Trong khi đó, người con kế của cụ Xuân - anh Nguyễn Sĩ Hồ - giáo viên Trường THPT Tân Bình, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương - thì tìm mộ anh ở các tỉnh phía nam.
Mọi nỗ lực suốt hơn 30 năm của cụ Xuân và anh Hồ đều không kết quả. Một lần về Hà Tĩnh thăm cha, anh Hồ tình cờ tìm thấy giấy khen anh Khoa đã gửi về nhà trước lúc vào Nam. Trên giấy khen có ghi đơn vị "Trung đoàn 271". Mừng quá, anh Hồ tìm đến Trung đoàn 271 đang đóng ở huyện Phú Giáo, cùng tỉnh Bình Dương nơi anh dạy học. Mãi đến lần thứ tư, đầu năm 2008, sau khi đọc hết các tàng thư có liên quan đến LS lưu tại trung đoàn, anh Hồ đã rơi nước mắt khi tìm thấy bản sơ đồ vẽ tay sơ sài vị trí 7 ngôi mộ LS hy sinh ngày 16.4.1973 ở Mỹ Thạnh Tây, trong đó có tên người anh Nguyễn Đăng Khoa.
Từ Bình Dương, anh Hồ đã hàng chục lần đi xe gắn máy vượt quãng đường cả trăm cây số đến Long An, Đức Huệ, Mỹ Thạnh Tây để cuối cùng cũng đã xác định được 7 ngôi mộ ấy đang nằm trong NTLS Đức Huệ với mã số từ 1 tới 7 trong khu mộ liệt sĩ chưa biết tên. Sơ đồ mà anh Hồ tìm thấy ở Trung đoàn 271 do người chiến sĩ thoát chết (nay cũng đã mất) trong trận phục kích ở Mỹ Thạnh Tây vẽ lại. Còn số thứ tự của 7 ngôi mộ trong NTLS được đánh ngẫu nhiên, vì vậy không thể phân định danh tính từng ngôi mộ.
Tháng 7.2008, đứng trước dãy 7 ngôi mộ trong NTLS Đức Huệ, thầy giáo Nguyễn Sĩ Hồ day dứt tự hỏi liệu có cách gì phân định tên tuổi từng người. Trong khi cụ Nguyễn Đăng Xuân (đã 84 tuổi) ở Hà Tĩnh cứ điện đòi vào thăm mộ con 1 lần rồi có chết cũng mãn nguyện. Đúng vào lúc ấy, anh Hồ đã đọc thấy mục "Kết nối thông tin tìm, báo mộ LS" trên báo Lao Động. Để rồi tình cảm thiêng liêng dành cho các LS, trách nhiệm đối với quá khứ hào hùng, ý thức xoa dịu nỗi đau xã hội của những đơn vị, cá nhân... đã đưa đến một kết cục tuyệt vời: Trả lại đúng tên cho các anh!
Hoa mua trắng
Không biết ngẫu nhiên hay có chủ ý mà hoa mua trắng - một loại hoa dại mọc ở vùng biên giới Đức Huệ - được trồng nhiều trong NTLS. Trong số hơn 2.000 mộ LS ở đây, có hơn 2/3 là liệt sĩ chưa biết tên. Đi qua các dãy mộ có tên tuổi, tôi bỗng nhận ra các anh đều hy sinh khi còn quá trẻ, hầu hết trên dưới tuổi 20. Có thể khi "ra đi theo tiếng gọi của non sông" các anh đều mới rời khỏi ghế nhà trường và ít có người lập gia đình. Bảy LS đang sắp được trả lại tên cũng đều hy sinh ở tuổi ngoài 20, mới có vài người lập gia đình vội vã trước khi "quăng mình vào gió bão". Cao tuổi nhất trong các anh là LS Trần Gia Long (SN 1944) quê quán Yên Lạc - Vĩnh Phú. Anh Long nhập ngũ năm 1963, đến cuối 1966 thì có lệnh "vượt Trường Sơn".
Trước lúc lên đường 2 ngày, gia đình cưới vợ vội vàng cho anh. Cho tới lúc hy sinh, anh không một lần gặp lại người vợ trẻ. Người em ruột Trần Gia Năm và 2 cháu của LS Long đã vượt hàng ngàn cây số vào với người thân. Anh Năm cho biết, LS Trần Gia Long còn có 2 người em (Trần Văn Mạch và Trần Văn Dược) cũng đều hy sinh ở chiến trường miền Nam. Tất cả đều không tìm được mộ. Vào năm 2001, Mẹ VNAH Bạch Thị Hảo (mẹ của các anh) đã đi theo ông bà khi niềm ao ước cuối đời (tìm được mộ 1 đứa thôi cũng được) không thành. Phải chi mẹ còn sống đến hôm nay!
LS Bùi Tiến Dũng, SN 1950, quê quán Thanh Chương, Nghệ An - cũng đi chiến đấu để lại ở quê nhà người vợ mới cưới... 20 ngày. Người góa phụ ấy đã ở vậy chờ chồng và thờ chồng suốt 20 năm, trước khi đi tìm hạnh phúc mới. Trong số bảy anh đang nằm đây có LS Hà Duy Hưng (SN 1953, quê quán Can Lộc - Hà Tĩnh) tòng quân vào Nam khi chưa tròn 18 tuổi, anh cũng là người trẻ nhất. Người em ruột Hà Duy Thông đến từ Can Lộc cho biết, đến bây giờ gia đình vẫn còn giữ những trang vở trắng tinh viết dở dang của người học trò "gác bút nghiên lên đường chiến đấu".
Xin các anh 1... chiếc răng
Theo hướng dẫn của Viện Công nghệ sinh học (đơn vị đồng hành với Báo Lao Động trong chương trình "Trả lại tên cho các LS" và cũng là đơn vị chịu trách nhiệm giám định gene), đội khai quật đã tìm trong từng bộ hài cốt một chiếc răng. Sau khi ghi mã số, đánh dấu cẩn thận, các mẫu răng được chuyển ra Hà Nội để giám định gene, để xác định tên tuổi các anh. Cứ sau mỗi lần khai quật bộ hài cốt, anh Nguyễn Sĩ Hồ lại khấn vái "Xin các anh 1 chiếc răng". Sáu bộ hài cốt đầu đã không khó để tìm thấy răng, nhưng đến LS cuối cùng thì không tìm thấy răng, đội khai quật phải "xin" 1 mẫu xương chi.
Gia đình LS Nguyễn Đăng Khoa có mặt khá đầy đủ (hơn 10 người) trong ngày khai quật. Anh Nguyễn Sĩ Hồ cho biết, anh thông báo với tất cả người thân sống khắp cả nước, nên thu xếp vào chứng kiến sự kiện vui này. Riêng đối với cụ Nguyễn Đăng Xuân, anh Hồ đã lên kế hoạch: Vì cụ đã yếu, khi nào có kết quả chính thức, gia đình sẽ đón cụ vào Long An tận mắt nhìn ngôi mộ con trai gắn tấm bia có tên Nguyễn Đăng Khoa. Còn việc xin rước các anh về quê, anh Hồ cho biết gia đình chưa tính tới.
Trở về quê hương, nơi các anh sinh ra và trải qua tuổi thơ êm đẹp, hay nằm lại nơi các anh đã chiến đấu kiên cường và ngã xuống anh dũng, đều xứng đáng như nhau. Điệu ví dặm sông Lam hay câu hò mái dài Đồng Tháp Mười đều ngọt ngào ru các anh an giấc sau khi đã hiến dâng cả tuổi xuân cho đất nước trường tồn.