Con đường đến với Việt Nam học của D.Marr khá đặc biệt: Từ một người lính Mỹ tham chiến tại VN (1962), rồi chuyển qua tham gia phong trào phản chiến, để đến nỗi phải chuyển qua định cư tại Australia.
Từng trải qua các vị trí: BTV tờ Vietnam Today, đồng Giám đốc Trung tâm Dữ liệu Đông Dương tại Washington và Berkeley, GS tại Viện nghiên cứu Châu Á Thái Bình Dương thuộc ĐH Quốc gia Australia (hiện đã nghỉ hưu).
10 năm sau khi có mặt tại VN, ông công bố công trình nghiên cứu đầu tiên về VN: "Chống chủ nghĩa thực dân ở VN 1885 - 1925" (1972), và sau đó là: "Truyền thống VN trong thử thách 1920 - 1945" (1981), "Việt Nam 1945: Sự tìm kiếm quyền lực" (1995) - Giải thưởng Fairbank dành cho công trình nghiên cứu xuất sắc nhất về Đông Á hàng năm của Hiệp hội Nghiên cứu Châu Á Hoa Kỳ.
Cũng vì cuốn sách nổi tiếng này mà một thời gian ông đã bị hiểm nhầm. Các công trình đang thực hiện: "Việt Nam 1945-1950: Nhà nước, chiến tranh và cách mạng", "Lịch sử văn hoá chính trị Việt Nam thế kỷ XX".
Một trong những người nổi tiếng nhất trong giới sử gia phương Tây nghiên cứu về VN hiện nay - David Marr - vừa trở lại VN. Không phải để có mặt tại Lễ trao tặng giải thưởng Việt Nam học 2008 của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh (D.Marr là một trong ba người được tôn vinh), mà là với tập bản thảo thứ 4 về lịch sử cách mạng VN - ở tuổi 71.
Tiếp cận D. Marr, tôi cũng thử cố gắng học cái cách ông làm sử: vừa tìm kiếm trong các nguồn tư liệu, vừa gặp gỡ nhân vật và một số nhân chứng liên quan..., dù cũng biết, một bài báo thì khó mà gói được chân dung một nhà nghiên cứu đã dành cả đời mình khám phá VN.
David Marr có một phong thái đủ để làm yên lòng người lạ: vừa đậm nét lịch thiệp, đáng tin cậy, lại đượm vẻ xuê xoa, dễ tính. Gặp ông, dễ hình dung cái cách ông tiếp cận với các nhân chứng, từ những bậc thượng cấp cho đến quần chúng bình thường, sẽ dễ đạt hiệu quả thế nào. Cùng với việc nói một thứ tiếng Việt có âm hưởng lạ, ở một ông Tây: giọng miền Trung (có lẽ vì D.Marr lấy vợ Huế), D.Marr càng lúc càng làm tôi quên mình đang trò chuyện với một người nước ngoài.
- Không có mặt được tại lễ trao tặng giải thưởng Việt Nam học vừa qua, nhưng nghe nói, lúc này, ông có một tập bản thảo mới. Đó là công trình gì vậy, thưa ông?
- Nó là một trong hai công trình nghiên cứu đều đang trong quá trình hoàn thiện, có tên là "Việt Nam 1945-1950: Nhà nước, chiến tranh và cách mạng". Bản thảo hiện chưa xong, mới chỉ đi được khoảng 3/4, nên cùng với việc đi tìm thêm những cứ liệu còn thiếu, tôi muốn tranh thủ dịp này nhờ GS Bùi Đình Thanh - người mà trước nay tôi vẫn thường nhờ thẩm định bản thảo xem giúp những trang tôi đã viết.
Trở lại VN lần này, tôi dành thời gian chủ yếu cho các chuyến đi đến các tỉnh thành từ Quảng Trị đổ vào, để tìm gặp những vị lão thành từng tham gia kháng chiến chống Pháp ở Trung Bộ và Nam Bộ. Đối tượng tìm hiểu của tôi lần này là những vị đã từng đảm nhận các vị trí cán bộ cấp xã, cấp huyện, thay vì cấp trung ương - là đối tượng mà tôi không mấy khi được có dịp tiếp cận họ qua các tài liệu sách báo.
- Đi từ 1945, vì sao ông lại chọn dừng ở "ga xép" 1950 mà không phải là 1954, để gói trọn cuộc kháng chiến 9 năm và "xuống tàu" ở "ga chính" huy hoàng: Chiến thắng Điện Biên Phủ?
- Cũng như 1945, năm 1954 của các bạn quá lớn để tôi có thể gói chung vào một cuốn sách. (Đây hẳn cũng là lý do từng khiến D.Marr, cũng như nhiều học giả nước ngoài khác, như Stein Tonnesson (Na Uy) đã phải dành riêng cho năm 1945 một cuốn sách riêng - T.L). Mà tôi thì đã ở vào tuổi 71. Nhưng để có 1954, cái công của 1950 (Chiến thắng Biên giới Thu Đông 1950) không hề nhỏ, nếu như không muốn nói là một cột mốc có tính bước ngoặt.
GS Bùi Đình Thanh thêm vào: "Theo tôi hiểu, D.Marr chọn cột mốc 1950 là có ý chọn đúng bước ngoặt để dừng lại. Đúng như anh ấy đã viết trong tập bản thảo vừa chuyến cho tôi: "Chính nhờ vào quá trình thai nghén một Nhà nước VN như vậy (1945-1950) mà đã sản sinh ra được một đất nước sau này là đối thủ đáng gờm của cả Pháp và Mỹ". Cũng là lộ trình quen thuộc của D.Marr, ở 3 cuốn trước: từng quãng, từng quãng một, theo trình tự thời gian (1885-1925, 1920-1945, 1945).
- Là một người Mỹ, hơn thế, còn là một trong những người Mỹ có mặt trong phong trào phản chiến tại VN, vì sao ông vẫn kiên trì theo đuổi giai đoạn mà các sử gia hay gọi là chiến tranh Đông Dương (cuộc kháng chiến chống Pháp - BT), thay vì cuộc chiến tranh VN (cuộc kháng chiến chống Mỹ - BT)?
- Càng đi sâu nghiên cứu một giai đoạn, hay một sự kiện, lại càng dễ gặp những câu hỏi thôi thúc, khó mà thoát ra được. Một phần nữa, cũng còn vì: ở vào điểm xuất phát, do hoàn cảnh chiến sự lúc ấy, tôi cũng khó lòng mà tiếp cận được các nhân chứng, tư liệu về cuộc chiến tranh VN.
Và trên hết, tôi cho rằng: một trong những nguyên nhân thất bại của người Mỹ tại VN chính là vì họ đã không bỏ công tìm hiểu cho kỹ càng và ngọn ngành thất bại trước đó của người Pháp, chỉ bởi cho rằng Pháp là thực dân, còn họ thì không, họ khác.
Tôi cho rằng, nếu người Mỹ chịu tìm hiểu bài học đấy của người Pháp, có khả năng họ sẽ không đưa quân tới VN, hoặc nếu có, cũng ít nhiều tránh được vết xe đổ. Tìm hiểu kỹ càng thất bại của người Pháp, theo tôi, cũng là một cách gián tiếp để lý giải thất bại của người Mỹ tại VN.
Dĩ nhiên, nếu ông trời cho tôi sống lâu, và sống khoẻ, thì chắc chắn, sau đây tôi sẽ phải viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ, mà một phần của nó hiện đã nằm trong trong một cuốn sách dự kiến của tôi ("Lịch sử văn hoá chính trị Việt Nam thế kỷ XX").
- Vậy còn với VN hôm nay? Ông từng có một khảo sát chi tiết: Vào cuối thập niên 1930, có 1,8 triệu người Việt biết đọc và biết viết quốc ngữ. Còn bây giờ, khái niệm "mù chữ" ở VN có nghĩa là "mù Internet". Giữa những chuyến trở lại VN khá đều đặn trong hàng chục năm qua, ông nghĩ sao về sự xê dịch khái niệm ấy?
- Đọc báo VN hàng ngày, tôi thấy gần đây, nóng lên vấn đề trùng tu di tích. Bảo tồn không đúng cách là ngang với phá hoại. Điều đó khiến tôi trộm nghĩ đến một khái niệm "mù chữ" khác, không phải chữ quốc ngữ, không phải Internet, mà là mù Hán Nôm.
Không ít sai lầm gây nảy sinh mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển theo tôi đều có thể bắt nguồn từ chỗ: không "dò cho kỹ ngọn nguồn lạch sông". Nạn kẹt xe chẳng hạn, các bạn kêu hàng bao năm nay, vì sao vẫn không giải quyết được? Cái gốc của vấn đề là ở đâu, liệu chúng ta đã chạm được tới? Mười mấy năm nay tôi ăn phở vỉa hè Hai Bà Trưng, có dạo thấy tự dưng chui tọt vào trong ngõ vì bị công an đuổi, giờ lại thấy chui ra... Vì sao vậy? Vì "phép vua thua lệ làng" à?
Còn nhớ, cái cảm giác bất ngờ và thích thú của tôi khi lần đầu tiên đến Hà Nội vào năm 1974, lúc ngắm nhìn thành phố từ ô cửa sổ trên cao, chạy vào mắt tôi là một thành phố đi xe đạp. Bình yên kỳ lạ! Vậy mà hình ảnh đó giờ đây lại chỉ có thể tìm thấy ở thủ đô Canberra của Úc hay những thành phố Châu Âu ... - nơi có những trạm xe đạp công cộng (mà không sợ mất cắp), những con đường dành riêng cho xe đạp... Còn ở Hà Nội, giờ đi xe đạp hầu như chỉ có học sinh. Quy hoạch đô thị, theo tôi không thể thiếu hai cái nhìn: nhìn lại, và nhìn xa.
D.Marr và bà Mai - người vợ Huế đã chung sống với ông 46 năm nay - có 3 người con. Song chỉ duy nhất anh con trai cả là theo nghề bố. Cả ba con của ông đều được dạy tiếng Việt nhưng D.Marr vẫn muốn cô con gái thứ hai của ông tìm cơ hội việc làm tại VN để có dịp trau dồi tiếng Việt. Tính là năm một lần (nhưng cũng có năm không thu xếp được) về thăm VN, không phải chỉ vì đó là quê vợ. Với lựa chọn Việt Nam học, D.Marr từng có những được, mất riêng không dễ quên đi, nhưng kỳ lạ là một tình yêu tận tâm bền bỉ.
GS Bùi Đình Thanh kể: Hầu như lần nào sang VN, D.Marr cũng không quên hỏi ông về chuyện kho tư liệu này, kia đã quyết định mở hay chưa. Hoá ra "bệnh già" của D.Marr vẫn chính là cái bệnh mãn tính mắc từ hồi nào: khát tư liệu! "Có lần anh ấy mang cả tạ sách báo lên máy bay, có chết tiền cước không! Và không chỉ một lần!" - GS Bùi Đình Thanh "than thở".
Thế vậy mà ai ngờ, trước khi nghỉ hưu, ông đã trao tặng toàn bộ tủ sách của mình cho Viện văn phòng Viễn Đông Bác Cổ tại Hà Nội (nơi có vị giám đốc chính là học trò của ông), trong đó có trọn bộ nhiều sách báo và tạp chí xuất bản ở Sài Gòn và Hà Nội trong những năm chiến tranh, đến nay đã trở thành quý hiếm.
|
"Không chỉ các bạn trẻ, mà ngay cả các nhà sử học VN, cũng đều có thể học được từ D.Marr thái độ làm việc hết sức nghiêm túc, tận tụy và hết mình ở anh ấy. Không ít học giả phương Tây nghiên cứu về lịch sử VN nhưng để lột tả được sâu sắc và cặn kẽ bản chất của sự kiện một cách tương đối khách quan, trung thực như D.Marr quả thực không nhiều và phải nói D.Marr đã thành công.
Nhờ vào phương pháp nghiên cứu kết hợp đủ các kênh tư liệu: từ sách báo tại VN, Pháp, Mỹ, Trung Quốc..., đến gặp gỡ các nhân chứng lịch sử từ cấp cao đến cấp thấp và trên cơ sở đó, D.Marr đã vừa làm được một phép tổng hợp tư liệu rất xuất sắc, lại vừa đưa ra được chính kiến riêng của mình mà xét cho cùng không quá xa lạ với quan điểm của chúng ta.
Cố nhiên, cũng có một vài ngộ nhận khó tránh khỏi ở một nhà nghiên cứu nước ngoài (và ngay cả ở chính một số nhà sử học VN), nhưng tôi nghĩ một vài hạt sạn trong một công trình nghiên cứu lớn thì cũng khó mà làm ảnh hưởng đến giá trị toàn cục của nó". GS Bùi Đình Thanh |