Nghiện ma tuý cũng là bệnh
Đối với Luật Phòng, chống ma tuý, UBPLQH cho rằng cần phải đối xử với người nghiện cho phù hợp hơn, trong đó cần coi nghiện ma tuý là một loại bệnh mạn tính như Tổ chức Y tế thế giới đã xác định, việc lệ thuộc vào ma tuý không phải là sự thất bại của ý chí mà là tình trạng chịu ảnh hưởng của chất ma tuý tái phát và kinh niên trên cơ sở gene và tâm lý. Do đó cần đối xử với người nghiện ma tuý nên theo hướng: Bỏ quy định xử lý hình sự đối với người nghiện ma tuý (tội sử dụng trái phép chất ma tuý)... Khuyến khích hoặc buộc cai nghiện theo phương thức cai nghiện phù hợp với từng loại đối tượng.
Hầu hết các ý kiến thảo luận tại hội trường lại đều tán thành với dự thảo về việc bỏ xử lý hình sự với người sử dụng trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên, rất nhiều ĐB đã tỏ ra lo ngại cần phải có thiết chế để thay thế hình thức xử lý này. ĐB Nguyễn Xuân Thuyết cho rằng: Cần phải thay vào các biện pháp xử lý hành chính, hình sự bằng những hình thức tổ chức cai nghiện, chữa bệnh cho người nghiện. ĐB Thuyết cũng cho rằng: Điều 27 của dự luật về các hình thức cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng còn rất chung chung, chưa rõ ràng.
Các địa phương có thể có cách vận dụng khác nhau, làm tăng đối tượng cai nghiện tập trung, Nhà nước phải chi và đầu tư một khoản kinh phí rất lớn. Về trách nhiệm của chính quyền sở tại đối với công tác phòng, chống ma tuý, ĐB Hồ Quốc Dũng lo ngại: Dự thảo luật xác định vai trò, trách nhiệm của uỷ ban nhân dân các cấp trong việc phòng, chống ma tuý là hết sức chung chung, vừa không rõ ràng, vừa thiếu tính khả thi. ĐB Dũng cho rằng, cần phải quy định rõ trách nhiệm của uỷ ban nhân dân các cấp, trong đó uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc quản lý và thực hiện chức năng phòng, chống ma tuý ở địa phương mình hay không để chúng ta còn có kiểm điểm. Do đó, tôi đề nghị bổ sung trong Chương II một điều về trách nhiệm của uỷ ban nhân dân các cấp và trong đó là uỷ ban nhân dân tỉnh trong việc chủ trì phối hợp trong phòng, chống ma tuý ở địa phương.
Đối với cây có chứa chất ma tuý, ĐB Hồ Quốc Dũng cũng cho rằng, ngoài việc phục vụ chế biến chất ma tuý còn được làm các dược phẩm, nhưng trong dự thảo luật cấm hoàn toàn như vậy sẽ không còn bóng dáng cây này ở đất nước Việt Nam nữa là không phù hợp. Về các chức năng phòng, chống ma tuý, ĐB Võ Trọng Việt cho rằng, quy định như trong dự luật là không đủ sức mạnh để phòng, chống ma tuý, mà cần phải quy định thêm trách nhiệm của các lực lượng: Bộ đội biên phòng, cảnh sát biển, hải quan... cùng với lực lượng chuyên trách phòng, chống ma tuý Bộ Công an mới đủ sức mạnh phòng, chống đại nạn này.
Cần phải đưa lợi nhuận từ dầu khí về ngân sách quốc gia
Trong chiều 16.5, QH đã thảo luận về Dự luật Dầu khí, nhiều ý kiến ĐB cho rằng cần phải làm rõ chức năng quản lý nhà nước về việc khai thác tài nguyên dầu khí. ĐB Nguyễn Thúc Kháng (Bà Rịa - Vũng Tàu) cho rằng, khi xem xét thì trong trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Công Thương, trong dự thảo luật mới không thấy chức năng kiểm tra, thanh tra và giám sát các hoạt động dầu khí. ĐB Kháng cho rằng, đây là một chức năng quan trọng trong nội dung quản lý nhà nước, vì nó sẽ bảo đảm quyền lợi của nước chủ nhà, vì khi khai thác các mỏ dầu khí, các nhà thầu, các nhà đầu tư đều có xu hướng khai thác nhiều, nhanh trong thời hạn hợp đồng để hoàn vốn sớm và thu lợi nhanh nhất. Điều đó có nghĩa là hệ số thu hồi có thể ít đi, dầu có thể nằm lại trong mỏ mà không lấy lên được nhiều hơn, ngược với mong muốn của nước chủ nhà là phải là điều kiện khai thác tối ưu để lấy được dầu từ mỏ nhiều nhất, khai thác ở chế độ khai thác hợp lý chứ không phải ào ạt, để bảo đảm được hiệu quả kinh tế dài hạn của mỏ và số dầu của toàn mỏ lấy lên, cũng như hiệu quả kinh tế là lớn nhất.
Chức năng trên bắt buộc phải được giao cho một cơ quan quản lý nhà nước thực hiện, nếu không nó sẽ tạo ra khoảng trống trong luật. Về vấn đề lợi nhuận trong ngành dầu khí, ĐB Nguyễn Hữu Nhơn cho rằng, dầu khí có nguồn thu lớn, chiếm tỉ trọng lớn trong ngân sách của quốc gia. Cho nên không nhất thiết phải để lợi nhuận 50% cho ngành dầu khí phát triển, mà có khi 30%, 40% thậm chí 50%, 60% là tuỳ theo yêu cầu phát triển của ngành dầu khí mà Chính phủ quyết định tỉ lệ này, chứ không nhất thiết phải 50%.
Đồng tình với ý kiến này, ĐB Phạm Thị Loan phát biểu: Dầu khí là nguồn thu lớn chiếm tới 25% GDP, nhưng cho đến hiện nay, chúng ta vẫn chưa có quy định rõ ràng gì về chế độ tài chính đối với nguồn thu dầu khí, trong đó chúng ta cho phép để lại 50% số lãi để đầu tư vào ngành dầu khí, nhưng Tập đoàn Dầu khí đã sử dụng như thế nào vào việc đầu tư lại cho ngành dầu khí về khai thác cũng như chế biến dầu khí, thăm dò dầu khí như thế nào thì không được biết.