 |
|
Nhà văn Sơn Nam |
(LĐ) - Thèm, được như "ông già Nam Bộ" mà người đời gắn cho ông. Thèm, viết như một người đại diện cho một vùng đất "văn minh miệt vườn", như tên một tác phẩm của ông. Nhưng không thể.
Thèm, làm một "nhà văn khảo cổ" chính danh, như nhà xuất bản An Tiêm từng giới thiệu như thế về ông. Và nhất là thèm được làm một người viết vui tính... như ông. Nhưng tôi vẫn không thể.
Nhớ trong một hội thảo về văn trẻ, trong khi các bạn trẻ căng thẳng bàn cãi, căng thẳng tranh luận thắng - thua trong văn chương chữ nghĩa, ông già Nam Bộ lên diễn đàn và kể chuyện... vui. Rất hóm. Không khí văn chương bớt nghiêm trang và trầm trọng đi thấy rõ. Cứ từ từ kể, từ tốn cười hóm và từ từ bước xuống: "Văn chương mà, các bạn làm như đánh giặc!".
Tôi có nhiều cái giống ông. Vẫn dân tỉnh lẻ vào Sài Gòn: Ông - Rạch Giá, tôi - Ninh Thuận. Biết nhiều và viết nhiều về vùng đất mình sinh ra và lớn lên. Nhưng thay vì làm giống ông, nghĩa là viết về vùng đất ấy như là một nhà văn, thâm nhập và diễn tả qua những bút ký, ghi chép đầy tâm trạng của người trong cuộc về cuộc sống và mảnh đất đó - như một nhà văn, tôi lại thiên về sưu tầm nghiên cứu - như một nhà khoa học. Đó là cái khác giữa ông và tôi. Khác nữa, là tôi quá ham mê văn chương, đến quên đi "nghĩa vụ" làm người đại diện như nhiều người mong thế, hy vọng thế.
Lướt qua các danh mục sách ông mà thèm: Chuyện xưa tích cũ (1958), Tìm hiểu đất Hậu Giang (1959), Hương rừng Cà Mau (1962), Đồng bằng Sông Cửu Long hay là văn mình miệt vườn (1970), Lịch sử khẩn hoang miền Nam (1981)... Đó là hơi thở của cuộc sống thực, của đời sống đang có mặt và nuôi dưỡng nguồn sáng tạo phong phú. Chúng được ông chuyển hoá vào trang văn, vừa sống động linh hoạt, nhưng vẫn đầy ắp sự kiện. Và quan trọng hơn, trong đó có cả hơi thở của người viết. Chúng khác với những gì từng có mặt trong sự nghiệp tiểu thuyết khổng lồ của Hồ Biểu Chánh, càng khác với những gì mà các nhà nghiên cứu về vùng đất này công bố vài chục năm qua. Các trang viết của Sơn Nam đi giữa hai luồng giao lưu chữ nghĩa ấy.
Hồ Biểu Chánh đã mất, Bình Nguyên Lộc đã mất, Vương Hồng Sển... đã mất. Những cây đại thụ người ta có thể dựa vào để tìm hiểu một vùng văn hoá. Hôm nay, Sơn Nam vừa mất. Nhưng sau ông còn đó thế hệ tiếp nối: Lê Giang "Lang thang gió cát" để có "300 điệu lý Nam Bộ" (tên hai tác phẩm quan trọng của Lê Giang), hay những Huỳnh Ngọc Trảng mới khác.
Yêu miền đất sinh thành là thế, có cống hiến to lớn là vậy, Sơn Nam vẫn luôn khiêm cung trong cách nói của ông. Ông xem tất cả chỉ là một khai phá khởi đầu. "Dám mong độc giả xem chúng là bản khởi thảo. Sau này đất nước hoà bình, phương tiện dồi dào, nhiều vị thức giả và các bạn trẻ hiếu học sẽ đi sâu vào đề tài này để những đức tánh lớn của dân Việt được phát hiện bi hùng hơn, gần sự thật hơn", như lời nói đầu cuốn biên khảo quan trọng của ông: Lịch sử khẩn hoang miền Nam (1973) mong ước.
| Nhà văn Sơn Nam tên thật là Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại Rạch Giá (Kiên Giang), mất vào lúc 12h30 ngày 13.8.2008 tại TP.Hồ Chí Minh. Ông học tại Cần Thơ, rồi tham gia kháng chiến chống Pháp. Sau năm 1954, ông trở lại Sài Gòn tham gia viết sách, báo. Ông được đặt nhiều biệt danh như "ông già Nam Bộ", "pho từ điển sống về miền Nam" hay là "nhà Nam Bộ học"... Với giọng văn tưng tửng, hóm hỉnh, cái nhìn bao dung với cuộc đời, ông để lại một lượng tác phẩm khá lớn, trong đó có cả truyện ngắn, biên khảo, ghi chép, hồi ký. Có thể kể một số tác phẩm: "Hương rừng Cà Mau", "Biển cỏ, Miền Tây và Hình bóng cũ", "Bà Chúa Hòn", "Lịch sử khẩn hoang miền Nam", "Đình miếu và lễ hội dân gian miền Nam", "Đất Gia Định-Bến Nghé xưa và Người Sài Gòn", "Vạch một chân trời", "Chim Quyên xuống đất", "Theo chân người tình và một mảnh tình riêng", "Dạo chơi-Tuổi già"... Ông từng viết: "Chết êm ái, không làm bận rộn người đang sống, được chôn cất nơi quê nhà, nằm bên mẹ cha, mươi năm sau được lãng quên, bên gốc cây cổ thụ, bên đám cỏ, làm bạn với con trâu già, với đứa mục đồng, hoặc luống rau, luống cải. Ước mơ tự nhiên chẳng là gì cầu kỳ, nhưng mấy ai thực hiện được? Đối với người làm văn chương, lắm khi thân xác còn đó, mạnh khoẻ, nhưng cảm quan đã cằn cỗi, không lột da được. Kinh nghiệm bản thân của tôi là nên "tập dưỡng sinh" cho con tim, cho bộ thần kinh trong suốt thời gian quyết định: Giữa 55 và 60 tuổi. Thấy cho được cái mới, vì đời luôn luôn đổi mới, đồng thời thấy cho được cái cũ đang được sơn phết, tự nhận là cái mới. Tò mò, với nụ cười khoan hoà, không nên luyến tiếc những gì gọi là thơ mộng của thời Trung cổ, đầy rẫy sự áp bức đối với người lao động để đem lại cái địa vị cho kẻ sĩ...". |
Inrasara
|