Từng trèo núi cả tuần lễ, đi từ Mù Căng Chải sang Sơn La học chữ, từng làm việc trong những cái bệnh viện gianh tre mà lợn và trâu dũi đổ cả bàn mổ, A Vàng đã đau đớn hạ quyết tâm đi học, học để dùng "tay dao" tài hoa của mình cứu bà con.
Khi khảo sát để hoàn thiện báo cáo Đề nghị phong Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới cho Thầy thuốc Ưu tú Vàng A Sàng, người ta giật mình: Chỉ trong 4 năm, anh mổ tới 11 nghìn ca! Cả tỉnh, ai đó nhỡ phải mổ hoặc đưa thân nhân đi mổ, họ đều ao ước được gặp tay dao của A Sàng, cái gì cũng chỉ A Sàng và A Sàng.
Dùng búa đinh đập nắp bình ôxy
52 tuổi, với đủ các cương vị, danh hiệu: Thầy thuốc ưu tú, bác sĩ chuyên khoa cấp 1, Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, Phó Giám đốc, kiêm Trưởng Khoa Ngoại, Chủ tịch Hội đồng khoa học - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái... thế nhưng, A Sàng nói tiếng Kinh (Việt) vẫn lơ lớ, chậm chạp.
Lần này gặp lại tại nhà riêng, thấy anh ăn nói bớt núi đèo sóng gió hơn, hoá ra "dao sắc không gọt được chuôi", tay dao mổ đệ nhất Yên Bái vừa mới thúc thủ nhờ cấp dưới đè ra... mổ ruột thừa.
Vợ A Sàng tủm tỉm: "Mấy chục năm anh ấy mổ người khác, bên ấy giờ thiếu bệnh nhân... họ đưa nhà em sang thử dao". A Sàng ôm bụng thật thà: "Để cho cậu Đông cậu ấy mổ cho mình, mình cũng áy náy, nhỡ có chuyện gì với "sếp Sàng" lại khổ... nó!".
Vàng A Sàng từng trải nghiệm quá nhiều cảnh khổ, nên hễ người nào nghèo, người nào bệnh là anh thậm xót xa. Ngay cả khi người bệnh nằm mê man chín phần chết - một phần sống, có đôi khi thân nhân họ cuống cuồng nặng lời với cả bác sĩ, họ khóc than gây ức chế cho nhiều người tham gia phẫu thuật, A Sàng cũng coi là bình thường. Điều duy nhất anh chăm chắm lúc ấy là: Sáng mắt, sáng lòng, sáng tay dao kéo để cứu sống người ta.
Khi mà việc "bồi dưỡng" kíp mổ, quà cáp bác sĩ trở thành phổ biến đến mức hiếm có ai không làm thế - thì A Sàng vẫn một mực không bao giờ nhận phong bì, quà cáp của người nhà bệnh nhân. Có thể có rất nhiều hoặc quá ít người trong sạch đến mức ấy, A Sàng không quan tâm lắm. Tự mình, anh muốn đẩy điều đó lên thành một thứ lẽ sống của người thầy thuốc đích thực.
Một lãnh đạo tỉnh Yên Bái nói khẽ với tôi: người bệnh nào cũng muốn được chăm sóc bởi A Sàng tài hoa và liêm khiết. Cứ vào viện mổ, là đòi A Sàng bằng được. Nếu không A Sàng thì phải là cái người mà A Sàng... phân công mổ.
Điều đó chưa hẳn đã tốt khi xét trên đại thể, bản thân A Sàng cũng chả thích thú gì điều đó, nhưng, đơn giản: đấy là sự thật. Ai đó bảo: "Nước trong quá thì không có cá", đôi khi, sự "gàn dở" của người bác sĩ tài hoa ấy đã khiến cho không ít người khó chịu. A Sàng cũng công nhận điều này, trong những lần gặp gỡ tôi, thế mới buồn.
Sinh ra cách tỉnh lỵ những 180km núi cao đèo sâu, nhà có tới 7 anh chị em nheo nhóc, bấy giờ đường rời Púng Luông, Mù Căng Chải, xuống tỉnh vẫn chỉ là lối mòn cho ngựa thồ đi thôi, hành trình phải tính bằng vài ngày cuốc bộ, A Sàng đến với cái chữ như một kỳ tích. Leo núi 20km, đi như Tôn Hành Giả ẩn hiện trong mây và mù, mây mù như toả ra từ các chóp rừng già để nối trời với đất. Cậu bé cứ đi.
Có khi đi gần trăm cây số ra đến huyện Văn Chấn, có khi đi qua cả vùng Nậm Khắt, Ngọc Chiến, về Ít Ong hoặc Bắc Yên, Cò Nòi - tóm lại là đi xuyên hai tỉnh Yên Bái và Sơn La để mà học. Ba bốn ngày trời đi bộ, gặp bản làng nào là ghé chân xin ăn, ghé lưng xin ngủ.
Năm 1981, tốt nghiệp Đại học Y khoa Thái Nguyên, ra trường, trở thành bác sĩ đầu tiên là người Mông ở tỉnh Yên Bái, Vàng A Sàng được trân trọng "điệu" thẳng về huyện nhà Mù Căng Chải công tác. Nhà tranh, vách trát đất, bệnh viện huyện mà cửa rả thông thống, đám lợn, trâu bò thả hoang nằm lấp sấp khắp nơi. Có khi lợn ỉ nó dũi sập cả một góc bệnh viện, dụng cụ mổ, thuốc thang đều ở dạng... "vườn không nhà trống".
"Thật khó để diễn tả được tâm trạng của mình lúc đó. Mình không nghĩ là mình đã buồn, nhưng đúng là rất xót thương cho "bộ mặt y tế" quê mình. Mình nghĩ bụng: thôi, mình ở đây cũng chẳng phát huy tay nghề được, mình đi học lên cao nữa rồi tính. Quê mình khổ quá, khổ thế này thì cũng chả khổ thêm được nữa đâu. Phải đi học để cứu những người bệnh lẽ ra có thể được cứu...".
Tôi rùng mình trước lời tâm sự của A Sàng, bởi sự chân thành của anh. Anh có thể giúp gì được cho Mù Căng Chải khi ấy, khi mà trình độ cử nhân y khoa của anh trở thành thứ "dao bầu chọc tiết chim sẻ" ở nơi không có bàn mổ, không có dao mổ, thuốc men như thế?
A Sàng không vô tình trước cái thiếu thê lương của miền hoang rậm ấy. Bằng chứng là sau này anh đã thành tài, về phục vụ ở Văn Chấn, ở Yên Bái, cứu giúp quá nhiều đồng bào của điệp trùng Tây Bắc. Bằng chứng là, ngay cả khi lợn và bò dũi đổ các trụ sở bệnh viện bằng nan tre đắp đất, A Sàng vẫn "mưu trí" đã giành lại sự sống cho nhiều người.
Một sớm, năm 1982, người ta khênh đến sản phụ là cán bộ huyện Mù Căng Chải, bị chảy máu nhau tiền đạo, thiết bị bấy giờ đã được trang bị tân tiến đến mức có bình thở ôxy và ống truyền dịch. Nhưng không ai biết sử dụng cả, thời gian đã khiến cái bình ôxy gỉ hen gỉ hoèn ở góc nhà vách đất. Lợn gà vẫn dũi bới, phóng uế xung quanh cái bình cũ.
Khi thấy nữ bệnh nhân tái nhợt, thiêm thiếp, thở ngáp ra như con cá bị vớt lên khỏi mặt nước đã lâu, A Sàng đau lắm. Không có dụng cụ đi kèm, cái bình ôxy to như quả bom, cũng không còn trông tỏ cả cái nắp cái gen vặn gì nữa. Nó là một khối bụi bặm, như phế liệu.
A Sàng bảo, nếu có ôxy, sẽ giúp người đàn bà vượt cạn được. Anh đã táo gan dùng búa đinh nện vào đầu bình, kiếm cái vòi, dẫn ôxy vào trong chai nước để nghe nước sôi sùng sục mà ang áng được nồng độ ôxy đang "tải" ra cao hay thấp. Sau đó, A Sàng đã dùng "ống xông tự tạo" dẫn thẳng ôxy vào... mũi bệnh nhân.
Bấy giờ, việc bác sĩ trẻ A Sàng cứu sống sản phụ bằng phương pháp "đường rừng" như thế đã gây chấn động giới y bác sĩ tỉnh Yên Bái.