Tin mới nhận:  
Đăng ký tin thư
  Email của bạn
  
  
Quảng cáo
Sự tích hai người mẹ còng
Lao Động số 215 Ngày 18/09/2008 Cập nhật: 9:34 PM, 17/09/2008
Hai người đàn bà chung chồng, chung cả nỗi đau
(LĐ) - Hai người đàn bà sống cảnh chung chồng dưới một mái nhà mà cơm lành, canh ngọt. Vắt qua hai thế kỷ, họ đã cõng bóng thời gian của hơn 60 năm đời người.

Thế mà nỗi nhọc nhằn của kiếp người vẫn chưa thôi đè nặng lên hai tấm lưng đã oằn còng mệt mỏi ấy. Họ vẫn phải bán mặt cho đất, bán lưng cho giời, vắt kiệt những giọt mồ hôi tuổi tác địu đỡ 5 đứa con, trong đó 2 đứa tật nguyền, 3 đứa còn nhỏ dại...

Tìm vợ cho... chồng

Bà Bích đã cõng bao nỗi đau người mẹ trên tấm lưng còng
Bà Bích lật đật chạy ra mở cổng. Cái thân hình vốn dĩ gầy guộc, tấm lưng còm cõi lại còng gập cả xuống khiến bà trông càng thêm nhỏ thó. Bà trộm nhìn lên di ảnh người chồng, trộm nhìn hai đứa con rứt ruột đẻ ra đều gần 30 tuổi mà vẫn ngơ ngơ như mất hồn, nước mắt chực ứa ra từ khoé mắt nhăn nheo. Bà Bích được 4 mặt con với chồng, những cái tên: Nguyễn Thị Bài, Nguyễn Thị Tiếp, Nguyễn Văn Thu, Nguyễn Thị Tịnh chỉ mộc mạc, thôn dã như ai đó ở thôn Thông Đạt (xã Liệp Tuyết, Quốc Oai, Hà Nội) này. Lúc đẻ ra cũng mẹ tròn con vuông, 4 đứa trẻ đều bụ bẫm, kháu khỉnh cả. Phận làm mẹ như bà Bích cũng chỉ suy nghĩ một cách lành lẽ rằng, cuộc sống chúng nó rồi cũng sẽ bình thường sau luỹ tre. Ước mơ giản dị mà sao bị đáp lại bằng sự cay nghiệt, khi cả 4 đứa trẻ cứ đến 6 tháng tuổi bắt đầu có những biến chứng, dặt dẹo. "Cái Tiếp mất khi 1 tuổi; cái Bài nếu sống thì năm nay cũng ngoài 30, nhưng nó đã bỏ tôi mà đi 5 năm nay. Hai đứa kia gần 30 cả rồi đấy, cứ suốt ngày lăn lê, ngơ ngác. Tội lắm". Bà Bích nói rồi tủi thân, tiếng khóc nghẹn dưới cổ họng từ nãy nấc lên ầng ậng.

Bà đã khóc hơn phần ba thế kỷ, tới giờ còn khóc và những giọt nước mắt lăn dài cấu vào da thịt, tiếp tục xẻ rãnh trên khuôn mặt nhằng nhịt nếp nhăn. Nỗi đau trong lòng người mẹ này quá lớn, nước mắt chảy mãi vẫn chưa vơi. Tới mức mà trong trí nhớ xù xì, cằn cỗi của bà lúc nào cũng chỉ hiển hiện duy nhất nỗi đau. Bà rưng rức hồi tưởng lại: "Theo về nhà chồng có hai chị em dâu thì chỉ các cháu con người em dâu được khoẻ mạnh, còn con mình chẳng nên thân người. Nghĩ đã tủi cực lắm, thêm nữa gia tộc, xóm giềng chẳng hiểu cho, lại dị nghị ra vào bàn tán mới càng thêm đứt ruột. Gia đình chồng hồi đó cứ đổ muôn sự tại tôi, bắt đi vái tứ phương xem trong người mang mầm mống của căn bệnh quái ác gì. Nhà tôi 6 anh chị em mà có ai bị làm sao đâu, tôi đã bao giờ biết bệnh viện, thuốc thang là gì. Các anh, các chị tôi sòn sòn mỗi người 4-5 đứa, các cháu đều khoẻ mạnh cả. Người ngoài đường thì cứ rỉ tai nhau câu cửa miệng "đời cha ăn mặn, đời con khát nước", cũng có người ra mặt mỉa mai, xỉa xói".

Bà Bích lấy ông Nguyễn Văn Thư từ sau khi ông trở về từ mặt trận với chế độ thương binh hạng 3/3, hưởng 70 đồng/tháng. Ông Thư đi kháng chiến từ năm 1962 - 1976, từng lập được nhiều chiến công. Hai tấm bằng khen Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhì (do Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam Nguyễn Hữu Thọ ký ngày 11.12.1975) và Huân chương Kháng Chiến hạng Nhì (do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh ký ngày 23.2.1985) bây giờ vẫn đậm dòng chữ ghi danh ông "có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước". Giấy chứng nhận số 3199 do Ban Bảo vệ Bộ Công an cấp ngày 2.9.1973 ghi rõ: "Đồng chí: Nguyễn Văn Thư; năm sinh: 1945; nguyên quán: Hà Tây; chức vụ: Trung đội trưởng C2HC208 hiện đang công tác tại đơn vị CQ 195". Bà Bích cố mò mẫm lại những đoạn ký ức đã nhàu nát: "3 đứa đầu đẻ ra cứ ngỡ mừng thì lại hoá khờ khạo. Đã quyết không đẻ, thế rồi các chị trên trạm xá xã động viên mãi, bảo là "cứ đẻ đi, đứa này chắc sẽ không như trước nữa". Phần cũng vì muốn có một đứa con cho ra mặt là con với chồng, nên tôi lại đẻ. Ai dè...". Bốn đứa con như thế, có bậc cha mẹ nào đành lòng? Nhưng vì gia cảnh túng bấn, bán khoai, bán sắn, tích cóp mãi vợ chồng bà mới có tiền cho mỗi thằng Thu xuống Bệnh viện Nhi TƯ khám bệnh. "Nhưng mà bực lắm chú ạ, người ta mắng xơi xơi: "Thằng này như hộ pháp thế thì có bệnh tật gì mà khám". Chồng tôi phải tìm mãi, kể mãi chuyện của mình thì họ mới lấy tuỷ của cháu đem đi khám nghiệm. Nhưng khám nghiệm chán chê, viện cũng lắc đầu chịu thua, không phát hiện ra bệnh gì". Đến những năm 1990, có nhà báo tìm về hỏi han, rồi nói tới một thứ chất độc da cam gì gì đấy. Chồng bà cũng kể, hồi ông chiến đấu ông thường xuyên phải hít ngửi mùi bom đạn khét lẹt... Một sự minh bạch căn nguyên, với bà bây giờ, có lẽ là vô nghĩa, bởi nỗi đau đã theo gần hết cuộc đời.

Thôn Thông Đạt lọt thỏm giữa mênh mông đồng lúa, cách trở bởi dòng Tích Giang hờ hững từ xưa tới giờ chưa ai gặp phải nỗi trớ trêu như bà Bích! Và hành động đi tìm vợ cho chồng của bà, nghe như chuyện lạ chỉ có trong cổ tích, cũng là có một. Bà đã gắng hết nhẽ phận làm vợ. Phận làm mẹ gặp phải cay nghiệt thôi thì đành cắn răng chịu đựng. Ông Thư dằn lòng nói lên những lời đắng chát: "Tôi chẳng bỏ mẹ con bà được, nhưng bà cho tôi đi tìm người nữa sinh con đẻ cái cho, chứ sau này đến tuổi phập phù, biết nương tựa vào đâu". Thôi thì số kiếp mình vậy, bà cũng chẳng so nhẽ thiệt hơn. Chính bà lại đon đả xóm trên làng dưới đi tìm "thê thiếp" cho "đức lang quân" đã hơn chục năm cùng chăn gối. Ngày ấy, chỉ có bà Duệ bên Tuyết Nghĩa, lúc đó còn làm ở HTX nông nghiệp, tuổi đã "nhỡ thì" biết cảm thông với nỗi đau của vợ chồng ông Thư, bà Bích. Nếu là người bon chen, tính toán, bà Duệ đã chẳng gật đầu. Đám cưới đơn sơ được tổ chức trong một ngày bình dị năm 1986. Từ bận ấy cho tới khi ông Thư nằm xuống (năm 1997), tới cả bây giờ nữa, trong căn nhà giại thưa chõng mọt giữa thôn Thông Đạt, chưa ai nghe thấy một tiếng cãi vã hờn ghen giữa hai người đàn bà... cùng chung sống với một ông chồng!

Hai tấm lưng còng còm cõi cõng 5 con

Bà Duệ dám bước qua những lời ngăn cấm để đến với ông Thực, trái tim không thể không cứng rắn. Nhưng thực ra, từ sâu trong trái tim ấy cũng có điều trăn trở. Những suy nghĩ rất đời thường, rằng bà có nên làm mẹ? Lúc nào bà Duệ cũng chắp tay lạy giời, để những nỗi đau tột cùng số phận không bao giờ trở lại căn nhà vốn dĩ đã quá xác xơ. Lời thỉnh cầu như thấu trời xanh. Và 3 đứa con của bà với ông Thư đều... nguyên vẹn! Đứa con trai cả ra đời (1987) như bao đứa trẻ khác, mừng quá, bà đặt luôn tên là Được. Rồi ngóng mãi, tới 3 năm sau vẫn thấy thằng Được bình thường, bà sòn sòn đẻ thêm cái Huệ, cái Hoà. Ba đứa con bà Duệ lúc nào cũng lễ phép cất tiếng gọi mẹ với cả bà Bích, bà Duệ. Phận đàn bà với nhau, bà Duệ là người hiểu hơn ai hết suy nghĩ của bà Bích. Phúc phận làm mẹ, bà chẳng gom riêng cho mình. Nỗi đau của bà Bích, bà cùng níu với lại phía mình. Hai người đàn bà chung chồng, chung cả nỗi buồn, niềm vui.

Cả bà Bích, bà Duệ đều thẽ thọt: "Chúng tôi như nắng cuối chiều rồi, không dựa vào nhau mà sống thì rồi đây 5 đứa con biết bấu víu vào đâu?". Hai đứa con bà Bích - Nguyễn Văn Thu, Nguyễn Thị Tịnh thì cứ ngày một yếu. Khi chúng tôi tìm tới, cả hai ngặt nghẹo mãi mới lết được vào chiếc chõng trong nhà để nghếch ngác nhìn người khách lạ rồi oặt oẹo mãi mới phát âm được mấy tiếng chẳng ra... tiếng gì! Bà Bích cả năm trời nay thấp thỏm mất ngủ đêm trường bởi một nỗi lo "còn hai đứa này nữa chẳng biết chúng nó sẽ bỏ tôi "đi" lúc nào". Sự ra đi của người con cả Nguyễn Thị Bài vẫn còn ám ảnh trong bà. Bài được cho đi trại Ba Thá (Bệnh viện Tâm thần Hà Tây - cũ) 5 năm thì một ngày, người ta gọi bà để trả con. Lúc tới nơi, bà thấy Bài sốt rét run bần bật. Bà cứ ôm ghì lấy con, lại quấn thêm tất cả những manh chăn có trong nhà mà cơn sốt vẫn quằn quại. Sau 3 ngày không ăn không uống, Bài đã chết trong vòng tay đau khổ của bà. Giờ cơn sốt rét ám ảnh ấy lại tấn công Thu và và Tịnh. "Một tuần mấy đêm liền chúng nó lên cơn sốt, co giật dữ lắm. Tôi lại lật đật chạy đi gom tất cả chăn, vải trong nhà, rồi mẹ nằm đè lên con mà chúng nó vẫn không hết lạnh. Cũng may là còn có thêm bà Duệ với 3 đứa  nhỏ đã biết đỡ đần". Bà nói rồi nước mắt lại chực rịn ra. Dường như đôi mắt đờ đẫn, mệt mỏi ấy, từ lâu lắm rồi đã không có một giấc ngủ lành?

Hai người mẹ tảo tần quyết gắng tới giọt mồ hôi cuối cùng kéo dài sự sống cho Thu, Tịnh, cũng như lo tương lai cho 3 đứa con thơ. Cái Huệ, cái Hoà thì vẫn chắt chiu cắp sách tới trường. Thằng Được 21 tuổi, không học hành gì, đi đánh giấy ráp trong xưởng mộc kiếm đôi ba chục ngàn đồng ngày công đỡ đần hai mẹ. Bà Bích, bà Duệ vừa chạy vạy mãi họ hàng hai bên để gom non chục triệu đồng mua cho Được chiếc xe máy phòng khi Thu, Tịnh trái gió trở giời còn có người chủ động chở đi viện thuốc thang. Tấm lưng của bà Bích đã còng quá, nay lại nhức mỏi liên hồi, nên một năm nay bà chỉ ở nhà chăm con lợn nái. Một mình bà Duệ cáng đáng 8 sào ruộng. Vào vụ gặt rồi bà cứ tính toán đâm lo, rằng không biết lúa đổ bồ xong, trả nợ rồi có còn đủ ăn nữa hay không. Năm nào vào mùa giáp hạt, 7 miệng ăn trong nhà cũng đều trông chờ vào những hạt thóc đi vay...

Giang Hải

Quảng cáo
 
Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2006 Báo Lao Động - Cơ quan của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. All rights reserved.
Giấy phép số: 221/GP-BVHTT • Tổng Biên tập: VƯƠNG VĂN VIỆT • Phó Tổng Biên tập: Tô Quang Phán - Vũ Mạnh Cường
Địa chỉ: 15/167 Tây Sơn - Đống Đa - Hà Nội • ĐT: 04-5330304 - 5330305 • Fax: 04-5370141 Email: webmaster@laodong.com.vn
Báo mới - Tổng hợp tin tức tự động