Trong hai tuần cuối tháng 5 và đầu tháng 6, thông tin từ một số bản báo cáo được truyền thông quốc tế đăng tải đã khiến giới đầu tư hoang mang. Thông tin phản biện hai chiều là điều cần thiết để đem lại cái nhìn khách quan hơn.
Kết quả của những phân tích sơ sài
Khá nhiều báo cáo của các tổ chức đầu tư quốc tế đã lên tiếng về những đánh giá mang tính thổi phồng về các khó khăn mà VN đang phải đối mặt. Mặc dù thống nhất rằng những khó khăn là không dễ dàng, thậm chí là đáng báo động nhưng các báo cáo này không cho rằng nguy cơ khủng hoảng tài chính đang hiện hữu.
Theo ông See Wee Tan - TGĐ điều hành Quỹ đầu tư VinChi Capital, câu chuyện "Việt Nam sắp khủng hoảng với dự báo thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai năm 2008 sẽ lên tới 16% GDP" là kết quả của những phân tích sơ sài.
"Khi một quốc gia mua trang thiết bị cho hai nhà máy lọc dầu, hai dây chuyền phân đoạn ethylene, hay mua 5 tàu chở dầu và 25 máy bay, tổng giá trị nhập khẩu tính theo USD phải tăng mạnh mẽ. Cùng với giá trị nhập khẩu, thâm hụt thương mại cũng buộc tăng lên tương ứng. Mặc dù vậy, khả năng cung ứng vốn cho các hợp đồng mua bán này và bản chất của dòng vốn mới thực sự là điều quan trọng.
Trên thực tế, nếu như nguồn tài trợ là vốn tín dụng xuất khẩu, hay các nguồn tài chính dài hạn khác, thì thâm hụt thương mại không nên và không được phép nhìn nhận một cách tiêu cực như thời kỳ khủng hoảng tài chính Châu Á 97-98 với sự thống trị của dòng vốn ngắn hạn", báo cáo viết.
Đặc biệt, báo cáo nhận định dòng vốn FDI chảy vào VN là mạnh mẽ và dài hạn. Theo ông Bùi Quốc Trung, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH-ĐT), 5 tháng đầu năm 2008, VN tiếp nhận 324 dự án đầu tư trị giá hơn 14,7 tỉ USD. Tính chung cả vốn đầu tư mới và vốn tăng thêm trong 5 tháng qua, cả nước đã thu hút thêm 15,3 tỉ USD, tăng hơn 2 lần so với cùng kỳ năm 2007. Đáng chú ý, quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 45,4 triệu USD/dự án, mức cao nhất từ trước đến nay.
"VN xếp thứ 6 về nhận vốn FDI trên thế giới chỉ sau một năm gia nhập WTO. Tôi tự hỏi liệu có điều gì hấp dẫn các nhà tư bản công nghiệp với cái nhìn dài hạn tới vậy, mà các chuyên gia kinh tế và các nhà bình luận kinh tế khác lại không phát hiện ra được sau một chuyến đi ngắn ngủi. Với thực tế đó, thật dễ hiểu tại sao các nhà bình luận lại hướng mọi nỗ lực vào con số thâm hụt", đại diện Quỹ VinChi Capital bình luận. Báo cáo cũng phân tích những yếu tố liên quan đến lạm phát cũng những thiết sót trong điều hành chính sách tiền tệ.
Một báo cáo khác ngày 5.6 của NH đầu tư Barclays Capital với tiều đề "VN: Down, but not out" cũng đánh giá tình trạng thâm hụt thương mại của VN sẽ bớt căng thẳng. Sau khi tăng khoảng 75,2% trong quý I/2008 so với cùng kỳ và tăng 84,9% trong tháng 4, tăng trưởng nhập khẩu đã giảm xuống còn 47,8% trong tháng 5. Thâm hụt thương mại đang được thu hẹp do nhập khẩu giảm và xuất khẩu tăng trong 2 tháng đầu quý II.
Mức thâm hụt giảm xuống mức 2,6 tỉ USD trong tháng 5 so với con số 2,8 tỉ USD tháng 4 và 3,3 tỉ USD tháng 3. "Khi các chính sách kiềm chế phát huy hiệu lực đầy đủ từ quý III, tốc độ tăng nhập khẩu sẽ được kiểm soát và mức thâm hụt cả năm sẽ vào khoảng 20,4 tỉ USD", báo cáo viết. Dự báo này cũng khá phù hợp với nhận định của Vina Capital với mức thâm hụt không quá 30 tỉ USD.
Khó xảy ra khủng hoảng
Ngày 3.6, Ngân hàng đầu tư Goldman Sachs cũng công bố một báo cáo phân tích về rủi ro trong ngắn hạn tại thị trường VN. Tuy nhiên, báo cáo cho rằng một cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán sẽ không xảy ra đối với VN như xảy ra ở Thái Lan năm 1997. Các căn cứ được đưa ra là: Dòng vốn ngoại tệ vào như FDI, ODA, kiều hối vẫn đang tiếp tục mạnh sẽ giúp bù đắp thâm hụt thương mại;
Các khoản vay ngắn hạn nước ngoài của VN chỉ ở mức giới hạn, khác với tình hình của Thái Lan trước khi nước này lâm vào cuộc khủng hoảng 1997 và VN cũng chưa bao giờ phụ thuộc vào những khoản vay kiểu này để bù đắp cho thâm hụt thương mại; Nhu cầu USD gia tăng chủ yếu là do lĩnh vực nhập khẩu. Goldman Sachs cũng cho rằng khả năng xảy ra tấn công tiền tệ trực diện của các nhà đầu cơ tiền tệ nước ngoài vào VN chỉ ở mức giới hạn.
Nghiên cứu về thị trường mới nổi tại Châu Á của CTCK Nomura ngày 2.6 cũng cho rằng khó xảy ra tình trạng rút vốn ồ ạt tại VN. Báo cáo phân tích 3 khía cạnh cơ bản: 1, cung cầu ngoại tệ trên cơ sở cán cân thanh toán quốc tế; 2, khả năng chịu đựng dòng vốn nước ngoài chảy ngược; 3, chính sách ngoại hối nhằm giữ tỉ giá. "Chúng tôi kết luận rằng đồng VND chịu ít rủi ro mất giá mạnh do sự rút vốn ngắn hạn và cũng sẽ chỉ phải chịu áp lực vừa phải từ nhu cầu bù đắp thâm hụt thương mại".
Theo Nomura, sự mất giá của VND trong tháng 5 vừa qua chủ yếu là do nhu cầu USD của DN nhập khẩu. Trong khi dòng vốn vào của VN chủ yếu là ODA, FDI và vốn dài hạn, đồng thời dòng vốn ngắn hạn (short-term hot money) rất hạn chế thì "rất ít rủi ro của một cuộc khủng hoảng tiền tệ do sự rút vốn ồ ạt quy mô lớn của dòng vốn ngắn hạn", báo cáo kết luận.