Tin mới nhận:  
Đăng ký tin thư
  Email của bạn
  
  
Quảng cáo
Tác phẩm tham gia cuộc thi viết: "Những tấm gương bình dị mà cao quý":
Số phận một con người
Lao Động số 237 Ngày 14/10/2008 Cập nhật: 10:07 PM, 13/10/2008
Chị Trần Thị Ngọc Lan bên chiếc máy tính - một trong những công cụ hỗ trợ chị đắc lực.
(LĐ) - Hàng ngày, đi ra, trở vào từ một cái ngõ tối thâm như hốc đá, lách qua những cái bếp tổ ong là một người phụ nữ nhỏ thó, dáng đi xô vẹo, chân cứ quét ngang như vệt chổi do bị liệt nửa thân người.

Chị là Trần Thị Ngọc Lan - biên tập viên NXB Văn học...

Căn nhà của chị rộng chỉ 2,5m x 2m, nằm sâu trong ngõ chợ Châu Long (Q.Ba Đình, Hà Nội), vây quanh lối đi là các bếp than tổ ong của những người hàng xóm 24/24h đỏ lửa và nhả khói ngột ngạt.

Dải đất oan nghiệt

uê Trần Thị Ngọc Lan (thị trấn Sao Vàng, Thọ Xuân, Thanh Hoá) được ví là "dải đất oan nghiệt". Bởi một lẽ, ngoài đói nghèo, cực khổ, nhiều ốm đau, bệnh tật đã đành, dải đất này còn có những bi kịch không sao hiểu được. 11 nhà kề nhau nhà nào cũng có người chết trẻ. Nhà chị cũng không là ngoại lệ.

Bố chị là quân nhân, tham gia kháng chiến chống Pháp ở chiến khu Quảng Trị, làm thầy giáo dạy học, tham gia phong trào bình dân học vụ. Sau 1954 ông tập kết ra Bắc, xây dựng Nông trường Sao Vàng. Việc ông có bị nhiễm chất độc da cam hay không chẳng ai biết, vì rằng chưa lần nào ông đi giám định y khoa.

Nhưng, ba anh em Trần Thị Ngọc Lan đều có triệu chứng lạ: Khi sinh ra bình thường, nhưng sau này, người anh lúc nhỏ bị bướu cổ, 21 tuổi thì bị tâm thần phân liệt; chị gái lúc nhỏ hay ngất, chảy máu cam, 25 tuổi thì bị ung thư mất; còn bản thân Trần Thị Ngọc Lan, 5 tuổi bị một cơn sốt bại liệt biến dạng nửa người bên phải.

Sau này lớn lên, chị có hỏi mẹ về căn nguyên bệnh của mình thì chỉ nghe mẹ kể lại rằng, đó là do chị sốt bại liệt biến chứng sang não, tổn thương thần kinh ngoại biên, làm méo giọng nói, chân phải và tay phải bị liệt, và nửa bên trái cũng yếu. Ngày mới bị lâm bệnh, chị phải bò. Sau hai năm luyện tập chị đi lại được, nhưng điệu bộ thì oặt oẹo như tàu chuối.

Chị chịu cảnh tật nguyền, nhưng lại rất ham học. Tay phải không viết được nữa, thì chị tập viết tay trái và tập tễnh đi đến trường xin học lại. Người dạy chị viết tay trái và nâng đỡ chị là bố, sau này ông cũng là người quan sát con đường thơ văn của chị. Ngày bị ốm, chị khóc cả năm trời, ngày nào cũng khóc vì nỗi buồn tủi không khoẻ mạnh như các bạn, lo sẽ không được đi học nữa.

Trần Thị Ngọc Lan xúc động: "Cả gia đình chị, ba anh em không được hưởng chế độ. Tính đến nay, anh trai chị bị tâm thần đã 15 năm, nhưng khi bố chị mất mấy năm do tai biến mạch máu não, mẹ làm đơn xin trợ cấp cho anh thì chính quyền bảo anh chưa thực sự cô đơn không nơi nương tựa, đang còn chỗ dựa là mẹ. Bà mới 62 tuổi thôi mà".

Khát vọng

Ngày bị bệnh, chị đi đứng rất khó khăn, ngày mưa hay nắng, cũng đi bộ năm cây số để đến trường, rồi phải bò qua cây cầu ghi trơn tuột để đến lớp, qua một bãi tha ma mênh mông. Nhiều khi phải đi từ 4 giờ sáng để trực nhật, ôm tranh đóng góp cho nhà trường, đem rau sắn nuôi cá. Chị tự giác làm tất cả mọi việc như những người lành khác.

Ngày đó, các bạn nhỏ chưa cảm thông với người tàn tật như bây giờ, cứ muốn bắt chước hoặc trêu cho chị khóc là thích, cười ré lên; nhưng sau thấy chị học giỏi thì không làm thế nữa. Mặc dù bị phân liệt nửa người, nhưng chị rất ham học, năm nào cũng đứng đầu lớp, được nhà trường khen tặng, nêu gương. Rất nhiều năm được đi thi học sinh giỏi tỉnh, huyện và nhiều lần được giải. Giấy khen hàng tệp dày, đỏ chói; năm 1990 là cháu ngoan Bác Hồ được ra thăm Lăng Bác.

Kỳ tích lớn nhất của Trần Thị Ngọc Lan phải kể đến là khả năng vượt khó vượt khổ để đến với văn chương như một tiền định. Chị làm thơ từ rất nhỏ, những bài thơ buồn, yêu cuộc sống, thơ về thiên nhiên, về con chó con mèo, về trường lớp, thầy bạn, về ước mơ, về chú bộ đội... Nhưng cú hích đầu tiên phải kể đến là tiểu thuyết "Ánh sao rơi" chị viết năm 16 tuổi.

Khi đó, Trần Thị Ngọc Lan vừa tốt nghiệp lớp 9. Chị đã nghĩ đến chuyện có thể không được đi học cấp 3 nữa, vì trường huyện thì xa, mình tàn tật, làm sao trọ học. Lòng ngổn ngang trăm mối, đau đớn khi phải chia xa những người bạn, cảm nhận đường đời nhiều tan vỡ và chị phải tự mình lựa chọn cho mình một con đường, một mơ ước. Chị đã lựa chọn: Con đường sáng tạo văn học.

Chị ngồi vào bàn và viết, trong 15 ngày được tiểu thuyết 200 trang. Chị nói: "Ngày ấy ở quê đói lắm, ăn rau má, ăn sắn, ăn lúa mạch, nhịn đói. Nhà chị lại hai lần bị cháy. Thật hãi hùng. Văn chương là bí mật xa vời không thể hình dung đối với một đầu óc non nớt. Chị trở thành một điển hình năng khiếu tràn ngập ước mơ và lý tưởng, nhận được học bổng Nguyễn Thái Bình, học bổng AÁnh sáng...".

Văn chương là tình yêu, là khát vọng, là con đường, là sự lựa chọn và hy sinh duy nhất của cuộc đời chị, là năng khiếu của chị. Cái mà chị trăn trở trong thơ văn chị đó là số phận con người. Chị khẳng định: "Một người cầm bút chân chính thì không bao giờ bị vướng bận bởi mặc cảm bản thân, sự bất hạnh gia đình, hoặc những tác phẩm hay, dở mà cô ta đã đọc. Văn chương sẽ đập tan cái ác, cái xấu, cái nhơ bẩn, cái hèn mọn, để bảo vệ cái đẹp. Đứng trước văn chương lộng lẫy, huy hoàng, con người nhìn thấy mất mát bất hạnh đời mình thật là nhỏ bé...".

Năm 1999, chị viết thư gửi trực tiếp cho ông Nguyễn Minh Hiển, lúc đó là Bộ trưởng Bộ GDĐT. Khi ấy, Bộ GDĐT quy định không cho những người tàn tật không đủ sức khoẻ dự thi vào đại học. Trong thư chị đã viết: "Tôi là người có năng khiếu văn chương, đã có tác phẩm được xuất bản, và trên hết tôi muốn là người có tri thức, sống có ích cho xã hội. Đề nghị ông cho tôi được dự thi đại học, để tôi có thể thành công dân tốt, có ích cho xã hội, và để bản thân tôi, gia đình tôi đỡ thiệt thòi".

Và Bộ trưởng đã đồng ý, đánh công văn về cho Trường Viết văn Nguyễn Du - nay là khoa Sáng tác và Lý luận phê bình văn học, Đại học Văn hoá Hà Nội, đề nghị trường cho chị dự thi như những thí sinh khác. Chị đã đỗ vào trường, đã đi hiến máu nhân đạo để mừng niềm hạnh phúc đó.

Phấn đấu không ngừng

Những năm trong Trường Viết văn Nguyễn Du, chị cố gắng học, đọc sách trong thư viện trường và sáng tác, cũng như gắn bó với bạn bè cùng yêu văn chương, cùng chung lý tưởng. Chị biết, trường đại học không phải mục đích, mà chỉ là cái cầu để chị đi qua, để đến với cuộc đời và xã hội rộng lớn mênh mông. Chính vì thế, chị đã không bị choáng ngợp khi ra trường, mặc dù chị không được lành lặn và có bao khó khăn thử thách đang chờ chị phía trước.

Sau khi tốt nghiệp, chị đã đi thăm dò xin việc nhiều cơ quan báo chí, xuất bản. Cuối cùng, chị được Nhà xuất bản Văn học nhận vào làm. Chị tâm sự: "Công việc tuy vất vả nhưng chị "đứng" được và nhanh chóng thích nghi với cuộc sống, hiểu mình là ai và tuyệt đối tin vào mình, đồng thời luôn tự sàng lọc và đổi mới, hoàn thiện mình, đặt trách nhiệm và nhiệt tình đối với công việc lên trên hết. Và, luôn giữ vững tình yêu đối với văn chương, như ngọn lửa thiêng liêng...".

Ngoài tình yêu văn chương, chị luôn dành tình yêu thương người mẹ thân yêu cùng người anh trai bệnh tật nơi quê nhà. Hình ảnh mẹ luôn hiện lên trong thơ văn của chị như một con người vô danh, nhiều mất mát, gian khổ, nhưng vô cùng anh hùng và vĩ đại. Mẹ rất nghèo, nhưng mẹ là người luôn sẵn sàng hy sinh vì chị, cổ vũ chị dám sống, thuỷ chung với nghệ thuật.

Tôi chỉ là người đưa tin đến bạn đọc bằng chừng ấy ghi chép về chị. Một con người tật nguyền, nhưng bằng nghị lực đã biết phấn đấu vượt lên số phận. Chị - một con người bình dị, nhưng thật đáng khâm phục.

Huy Thông

Quảng cáo
 
Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2006 Báo Lao Động - Cơ quan của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. All rights reserved.
Giấy phép số: 221/GP-BVHTT • Tổng Biên tập: VƯƠNG VĂN VIỆT • Phó Tổng Biên tập: Tô Quang Phán - Vũ Mạnh Cường
Địa chỉ: 15/167 Tây Sơn - Đống Đa - Hà Nội • ĐT: 04-5330304 - 5330305 • Fax: 04-5370141 Email: webmaster@laodong.com.vn
Báo mới - Tổng hợp tin tức tự động