Tin mới nhận:  
Đăng ký tin thư
  Email của bạn
  
  
Quảng cáo
Sa Lai - thời sốt rét
Lao Động Cuối tuần số 20 Ngày 17/05/2009 Cập nhật: 12:57 AM, 17/05/2009
Bốn chị em Máy - Dế - Phính - Mo (từ trái sang), 18 năm sau.
(LĐCT) - Sốt rét dưới chân dãy núi Pha Luông (Núi Lớn), dãy núi giáp biên hai nước Việt Lào, rất khủng khiếp. Các chiến binh Tây Tiến bị sốt rét, mặt mày xanh rớt, tóc rụng trọc, "rải rác biên cương mồ viễn xứ".

Trong bài thơ "Tây Tiến" của Quang Dũng, có nhắc đến những "đoàn binh không mọc tóc", "quân xanh màu lá dữ oai hùm" ở khu vực "Pha Luông nhà ai mưa xa khơi". Bình giảng bài thơ này thì dài dòng, nhưng có một điều phải nói đến ngay là sốt rét.

Giữa năm 1991, dịch sốt rét bùng phát, trong vòng một tuần, giết chết hơn ba trăm người ở Sơn La. Ở xã Xuân Nha, huyện Mộc Châu, có bản Sa Lai bị sốt rét tấn công vùng đất trù phú bỗng chốc biến thành nghĩa địa hoang tàn. Ngôi nhà cuối cùng còn sống sót trên đất Sa Lai, có 9 người thì 4 người đã chết mà chưa có ai đem chôn; 5 đứa trẻ mồ côi, rách rưới, xanh rớt, nằm chờ chết đã được người ta "mở đường máu" lội rừng vào cứu sống.

Sau 18 năm, chúng tôi đã gặp lại các em bé tội nghiệp đó...

5 đứa trẻ cầm cự trong "rừng mả"


Ông Đường, dân tộc Thái, Phó Bí thư Đảng uỷ xã Xuân Nha, một xã của huyện Mộc Châu rộng hơn cả diện tích của tỉnh Thái Bình, rộng và hoang thẳm đến mức, nơi đây, người ta xây dựng cả một Khu bảo tồn thiên nhiên mang tên Xuân Nha. Đến mức, tháng 5 năm 2009, vào Xuân Nha, chúng tôi vẫn phải đi vòng sát biên giới Việt Lào, đi chóng mặt trên các đỉnh núi chon von, đường đang được vỡ đá xẻ lối tan hoang.

Nắng như đổ lửa. Ông Đường thở dài: "Thế mà 18 năm trước, khi dịch sốt rét tràn qua, chẳng nói thì các anh cũng biết, quê chúng tôi rậm rạp đến mức nào. Rừng tràn vào tận cổng uỷ ban xã, rừng đầy ăm ắp".

Người già ở Xuân Nha kể: Đất dựng bản Sa Lai, vốn là nơi định cư lâu đời của người Thái, nhưng vì bị dịch bệnh "ăn" đã nhiều lần, họ đã bỏ xứ ra đi. Sau này, người Mông từ mạn Lào Cai kéo sang, phát đốt trọc trỉa, dựng bản ở Sa Lai.

Bấy giờ, tháng 5 năm 1991, bản Sa Lai không mùng màn, không thuốc thang, dịch sốt rét kéo đến và thả sức tác yêu tác quái, họ cứ thấy nhức đầu, buồn nôn, đau nhức, bụng phình to, sốt theo giờ, rồi hôn mê lịm đi, mà không biết mình bị bệnh gì. Vài người già chết, các hộ bảo nhau đem chôn ngoài bìa rừng.

Rồi nhà nào cũng có người chết, có nhà chết sạch không còn một ai, người chết nằm đó, không còn người khoẻ đi chôn nữa. Cũng không biết kêu ai, bởi bản làng của họ nằm tít trong rừng già, không có đường đi, không có phương tiện liên lạc, năm thì mười hoạ có người nào đó đi săn hoang thú lạc vào thôi.

Ông Đường nhớ, bấy giờ có người đi nương qua bản Sa Lai, thấy đìu hiu vắng vẻ, họ mới ghé vào một căn nhà với ý định xin ngụm nước uống. Xung quanh lặng ngắt, dăm bảy người nằm chết đè lên nhau, già có, trẻ có. Hãi hùng, người đi nương gào gọi, thì thấy tiếng rên khe khẽ ở ngôi nhà của Giàng A Của.

Của mới chừng 30 tuổi mà có tới 7 đứa con, 2 đứa đã tắt thở bên xác cha. Bên cạnh là vợ Của - chị Giàng Thị Nhứ - cũng đã chết. Bên ổ bụng chướng phình của chị, bé gái da bọc xương lim dim ngủ, nó không còn đủ sức để khóc nữa. Chỉ một ngày nữa, là bản Sa Lai sẽ không còn một ai sống sót.

Không biết kêu ai, năm đứa trẻ con lại quá sợ hãi ngôi nhà "ma ám" đã bỏ ra bìa rừng dựng một mái phủ la, tá túc qua ngày. Lúc lều sập, chúng táp vào một nghĩa địa hoang tàn của người Thái (tộc người này có tục dựng lều, chia của cho người chết) để sinh sống. Hàng ngày, hai đứa trẻ lớn nhất cầm dao, thuổng vào rừng kiếm củ, quả về cho các em cùng ăn để cầm cự với đại dịch.

Tin dữ bay ra đến đồn biên phòng và uỷ ban xã. Cũng đợt đó, có anh Nguyễn Văn Lụa, là nhà báo của tỉnh vào đồn biên phòng công tác, nghe chuyện, anh Lụa một mặt về kiến nghị lên tỉnh, một mặt viết lên một số tờ báo trung ương, rằng hãy cứu lấy 5 cháu bé còn lại của bản Sa Lai đói khát, dịch bệnh giữa rừng già.

Tiếng kêu cứu thấu lên huyện, tỉnh. Việc dập dịch sốt rét khủng khiếp ở Sơn La đã chấn động cả nước vào giữa năm 1991. Đám trẻ như đàn mèo hen ne nép trong hang núi, giữa khu rừng mả đã được đưa ra tỉnh chăm sóc, chữa bệnh.

Giữa rừng già, không khai sinh, đẻ đái không báo cáo ai, không nhờ ai đỡ đẻ hay cắt rốn, cho nên, "tiếp quản" lũ trẻ, cán bộ Mộc Châu chỉ còn cách đi tìm một người giỏi tiếng Mông, trò chuyện với đám trẻ để "kiểm đếm" xem đứa nào là anh, đứa nào là chị, là em. Chúng bao nhiêu tuổi, bệnh tình ra sao?

Thống kê lại, thì 5 đứa "người rừng" gồm: bé trai Giàng A Lau và 4 cháu gái: Giàng Thị Dế, Giàng Thị Phính, Giàng Thị Mo (mới 5 tuổi), Giàng Thị Máy (mới 2 tuổi đầu).

Con đã trở về với Sa Lai!


Từ trong vùng thảm hoạ chết chóc, 4 đứa trẻ được đưa ra trại trẻ mồ côi của tỉnh (riêng đứa chị Giàng Thị Dế, sau đó xin rời trung tâm, về Mường Khừa sống với người bà con xa). Bấy giờ, trại trẻ vừa thành lập, có vài cán bộ rồi nhưng chưa kịp xây dựng cơ sở vật chất, 4 chị em họ là những thành viên đầu tiên, phải sống trong điều kiện thiếu thốn mọi bề.

Cô Lù Thị Han, người "mẹ" (cán bộ chăm sóc trong trại trẻ mồ côi) của các cháu suốt 18 năm qua, kể: khi đoàn cán bộ vào rừng tìm, các cháu sợ hãi bỏ chạy, vài đứa không manh áo quần, nhớp nhúa bùn đất, có người hoa mắt cứ ngỡ đó là đàn khỉ hoang! Các cháu đều bị suy dinh dưỡng, bị các cơn sốt rét ác tính hành hạ.

Khi đi đón các cháu, anh Miền - bác sĩ nhi khoa của tỉnh - phải đi cùng để chăm sóc.

Lúc được khiêng qua khu vực có đồn biên phòng, cháu Lau lên cơn sốt cao, đoàn phải dừng để vào đồn xin thuốc cho cháu uống...
 

Cô Han kể: cán bộ và trẻ mồ côi đều ở nhờ trong ngôi nhà xập xệ mượn được của Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh. Cơm ăn với cá mắm khô "đến hẹn lại lên", đến mức sau này các cháu đều bị chung một thứ bệnh: cảm thấy sợ hãi mỗi lúc ngửi thấy mùi cá khô.

Sống bằng rau cháo, với sự đùm bọc của các "bố", "mẹ" người Thái, người Kinh; dẫu sao vẫn hơn vùng sơn lam chướng khí ở bản Sa Lai đã bị xoá sổ vì sốt rét kia.

Tháng 5 năm 2009, khi chúng tôi trở lại Sơn La, thì em Giàng Thị Mo (sinh năm 1986) vừa sinh đứa con trai được 4 ngày tuổi. Mo ở Trung tâm Bảo trợ xã hội, rồi đi học trường Thiếu sinh quân, theo học chuyên ngành sản nhi, đã tốt nghiệp gần 2 năm, nay đang mỏi mòn chờ xin việc.

Không thể hình dung được: từ chỗ là đứa trẻ không áo quần ở trong rừng mả cũ của người Thái, cận kề cái chết vì dịch sốt rét ác tính, giờ đây, Mo đã trở thành một người đàn bà nhan sắc, nói năng nhỏ nhẹ, khéo chiều chồng lại khéo nuôi con. Chồng Mo tên là Lò Văn Hoàn, một cán bộ xã đội ở Chiềng Đen, ven thành phố Sơn La.

Chăm chắm lo sự học, suốt 18 năm qua, đường về nơi chôn nhau cắt rốn xa xôi gần 150km đường đèo dốc và những chặng đường núi cuốc bộ quá vất vả, thành thử, Mo mới chỉ được về thăm xã Xuân Nha có một lần.

"Anh Lau (Giàng A Lau, người anh trai sống sót của Mo) đưa em về quê, bấy giờ em mới chỉ 14 tuổi. Đường về Xuân Nha phải đi bộ mất 2 ngày, dọc đường, trời tối, hai anh em ngủ lại nhà cô Hội trưởng Phụ nữ huyện Mộc Châu ở khu vực Chiềng Ve. Mộ bố và mộ mẹ em ở cách nhau nhiều gò nương lắm.

Khi trở về rừng, em không hợp thời tiết gió Lào (giáp biên), lại chưa quen đi bộ, nên bị sốt ốm. Đến bây giờ, em mới chỉ đứng trước mộ của bố một tí, không thắp được nén nhang nào. Mộ mẹ ở xa lắm, chưa bao giờ em đến được" - Mo kể rồi cứ thế tấm tức khóc. Quá khứ hiện về, dường như vòm mắt tối đi.

Bốn đứa trẻ "người rừng" sống sót từ vụ sốt rét xoá sổ Sa Lai năm 1991 khi vừa được đưa về trại trẻ mồ côi. Người đàn ông trong ảnh là nhà báo Nguyễn Văn Lụa (Đài PTTH Sơn La), người đã phát hiện , kêu cứu, rồi theo sát, giúp đỡ các cháu suốt 18 năm qua. Người phụ nữ ở góc phải là cán bộ trại trẻ mồ côi khi tiếp nhận các cháu.


Từ trong đau thương, đám trẻ sống sót từ vụ "xoá sổ" Sa Lai nay đã trở thành những nam thanh nữ tú của thành phố Sơn La thời mới. Người chị cả Giàng Thì Dế về Chiềng Khừa lấy chồng làm nương rẫy, đẻ được 4 con, kinh tế cũng khá giả. Cô thứ hai Giàng Thị Phính, từ trại trẻ, Phính học ngành y, ra trường về xã Hang Chú (huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La) làm công tác y tế học đường ở trường xã. Phính lấy chồng người Mông ở địa phương, là một cán bộ tư pháp xã, anh này đang học đại học tại thành phố.

Cô em út Giàng Thị Máy, được cô bảo mẫu - bà mẹ của Trung tâm Trẻ mồ côi Sơn La (tên là Lù Thị Han) - nhận làm con nuôi, được chăm sóc hết sức chu đáo. Cô Han, người phụ nữ Thái có tấm lòng bồ tát, không xây dựng gia đình, công tác tại trung tâm suốt 18 năm qua, cô đã chăm sóc 4 chị em Lau từ khi các cháu mới sống sót trở về, cô coi các cháu như con ruột.

Riêng bé Máy được mẹ Han nuôi dưỡng đặc biệt. Bởi trong các bữa ăn tập thể chỉ độc với một món cá mắm mủn mục thời trước, bé Máy chưa đầy 2 tuổi, không biết tự ăn, cũng không thể ăn được. Ban lãnh đạo trại trẻ mồ côi đã động viên cô Han chăm sóc bé Máy kẻo nó chết mất. Cô lo từ cháo bột, đường sữa, bón nhá cho cháu tại căn phòng tập thể độc thân suốt đời của mình.

Suốt 9 năm cấp 1 và cấp 2, Máy đều đạt học sinh giỏi, 3 năm cấp ba liên tục là học sinh tiên tiến. Giờ đây, Máy đang học ở trường Cao đẳng đào tạo nghề cao su trong Bình Phước, mẹ Han vẫn ngày ngày dõi theo các con, chăm sóc các cháu khi chúng dựng vợ gả chồng, sinh sôi.

Riêng Giàng A Lau - đứa con trai duy nhất con sống sau vụ xoá sổ Sa Lai - cậu bé luôn nặng lòng với vùng đất tang thương Xuân Nha, nơi bố mẹ và hầu như toàn bộ bà con của bản đã vĩnh viễn nằm lại.

Tốt nghiệp trường Thiếu sinh quân, sau 4 năm phục vụ quân ngũ, mặc nhiều người can ngăn, Lau viết đơn, xin bằng được về công tác ở chính xã miền núi heo hút Tân Xuân (nơi có bản Sa Lai trước kia). Ở nhờ nhà bà con, giữa cuộc sống bộn bề lều tranh vách đất, Lau vẫn quyết tâm vận động, giúp đỡ bà con trở về sinh sống, đánh thức vùng đất Sa Lai tươi đẹp trù phú năm xưa, nơi có hương hồn những người bản Sa Lai tội nghiệp.

Trở thành một cán bộ xã, trước đó đã vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng (vào dịp 2.9.2007), nay Lau đang được cấp trên tín nhiệm gửi đi học đại học ngoài thành phố. Lau đứng trước hai ngôi mộ xếp đá của bố và mẹ, rồi khóc: "Con đã trở về với Sa Lai".

Nhìn chị em họ xúng xính váy áo người Mông, da trắng, cười tươi, đôi lúc ăn diện kiểu thanh niên phố thị, ít ai ngờ được rằng, đã từng có một Sa Lai thảm hoạ, Sa Lai từng bị "xoá sổ". Sa Lai đã hằn in và quyết định số phận họ suốt 18 năm qua.

Sự trớ trêu của tạo hoá, đã khiến những đứa trẻ sống sót đằm hơn, chịu thương chịu khó và biết khát khao sống cống hiến xả thân cho cộng đồng hơn. Hai chị em Mo và Phính, cứ gặp nhau là khóc, là ao ước được làm người cán bộ ngành y, để không có cái bản làng nào, cái gia đình nào phải bị thảm hoạ kinh hoàng xoá sổ vì dịch bệnh như ở Sa Lai. Họ đã làm được điều đó.

Cũng như cậu bé Lau đã hồi hương, đã làm hồi sinh cho một Sa Lai đã từng là biểu tượng của tật bệnh, tang tóc, thảm hoạ.

Phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng
Tin mới từ Sơn La

Quảng cáo
 
Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2006 Báo Lao Động - Cơ quan của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. All rights reserved.
Giấy phép số: 221/GP-BVHTT • Tổng Biên tập: VƯƠNG VĂN VIỆT • Phó Tổng Biên tập: Tô Quang Phán - Vũ Mạnh Cường
Địa chỉ: 15/167 Tây Sơn - Đống Đa - Hà Nội • ĐT: 04-5330304 - 5330305 • Fax: 04-5370141 Email: webmaster@laodong.com.vn
Báo mới - Tổng hợp tin tức tự động