Tin mới nhận:  
Đăng ký tin thư
  Email của bạn
  
  
Quảng cáo
Phở Huế
Lao Động Cuối tuần số 22 Ngày 10/06/2007 Cập nhật: 7:21 AM, 10/06/2007
(LĐCT) - Trong một buổi sớm tinh sương của một thành phố đẹp và thơ mộng, món bún bò Huế là món ăn Việt Nam đầu tiên đã mở được cánh cửa lòng của cậu bé bấy lâu vẫn khép chặt trước hương vị quê hương.

Ở xứ Nhật này, Y không thể nào nấu các món ăn Việt Nam giữ đúng hương vị cổ truyền, cho con biết thế nào là hương vị quê hương.

Một người bạn Nhật - anh S. chuyên gia về lịch sử Việt Nam - có nhận xét rằng đặc điểm của món ăn Việt Nam là dùng nhiều gia vị, mà đặc biệt là các loại rau thơm. Thì Y cũng có ráng trồng được một ít rau húng, rau răm...

Thỉnh thoảng khi về Việt Nam, Y thường lén đem sang Nhật vài giống hoa và nhất là những loại rau thơm, đem sang Tokyo phải ngâm gốc ngò gai vào cốc nước, chờ gốc ngò ra rễ mới trồng xuống đất. Nhưng qua một mùa đông, ban đêm sương xuống lạnh, hoặc hơi nước trong đất tụ lại và đóng thành những mảnh băng cứng lởm chởm trồi ra trên mặt đất, hầu như rễ của các loại rau húng đều bị chết cóng, chẳng thể lại nảy mầm vào mùa xuân sau đó.

Ngoài việc dùng nhiều loại rau thơm, nhiều món ăn bánh trái của Việt Nam làm từ gạo, một loại gạo tẻ khác với gạo của Nhật. Ở đây không có bánh phở làm bằng bột gạo, không có bột để tráng bánh cuốn. Các loại bún, bánh canh của Nhật cũng làm bằng gạo, nhưng đó là loại gạo nấu cơm dẻo gần như cơm nếp.

Người Nhật cũng gọi những món ăn của quê mình là hương vị quê hương. Ngoài ra, tuy cũng cùng là một món ăn nhưng mỗi gia đình có một cách nấu hay nêm nếm gia vị khác nhau, có hương vị riêng của gia đình đó, thường được gọi một cách trìu mến là Hương vị của Mẹ. Thỉnh thoảng trên tivi có các chương trình về Hương vị của Mẹ, mà hai món ăn điển hình thường được giới thiệu là cơm nắm và canh tương miso.

Muốn làm cơm nắm - tiếng Nhật gọi là onigiri - người Nhật chỉ cần cho cơm vào lòng bàn tay, dùng hai tay nắm nhẹ vài cái là có được một nắm cơm hình tam giác, các hạt cơm đã đủ dính vào nhau, không bị rời ra. Onigiri có thể chỉ có vị mặn của muối - khi nắm cơm thì xoa sẵn nước muối vào lòng bàn tay, hoặc có nhận một quả mơ muối ở chính giữa, hay có trộn cá cơm lẫn trong cả nắm cơm.

Nắm cơm onigiri hình tam giác, bên ngoài thường được gói thêm một miếng rong biển nori màu đen. Nói tới hương vị quê hương của người Nhật thì trước hết phải nói tới rong biển nori này, và các nắm cơm onigiri của mỗi bà mẹ lại khác nhau về độ mặn mà của muối, của mơ muối, hay của các loại cá vụn, của lá tía tô muối, của cá ngừ phơi khô bào mỏng v.v... nắm chung với cơm.

Các học sinh Nhật hay cả những người sau khi đã trưởng thành, có thể nhắm mắt lại ăn thử vài ba nắm cơm onigiri khác nhau, vẫn đoán trúng được nắm cơm nào là nắm cơm của mẹ mình. Bởi vì họ đã ăn onigiri của mẹ từ bé.

Hương vị của Mẹ cũng có thể ở chén canh tương miso không thể thiếu trong mọi bữa ăn sáng, trưa và tối của người Nhật. Tương miso của họ có nhiều loại màu đỏ, đen, hay vàng nhạt.

Y thèm được như các bà mẹ Nhật, mong sao mình có thể nấu một món ăn Việt Nam nào điển hình để con nhớ suốt đời và gọi đó là Hương vị của Mẹ. Nhưng tất cả các món ăn Việt Nam mà Y nấu ở đây, dù có cố gắng đến mấy, dường như cũng không thể sao chép lại được đúng hương vị món ăn quê hương, vì món nào cũng bị pha chế bằng vật liệu và gia vị của Nhật, bất đắc dĩ phải dùng thay thế.

Một món tiêu biểu mà Y hay nấu là phở. Nấu nước phở có thể dùng gia vị là gừng nướng, hoa hồi, quế chi, một chút ngũ vị hương v.v... Mấy thứ gia vị này xưa kia có bán trong phố Tàu ở Yokohama, cách Tokyo chừng một hai giờ tàu, bây giờ thì ở đâu cũng có, coi vậy mà cái khoản này lại không khó lắm. Nhưng còn bánh phở thì chịu chết. Vẫn phải dùng một loại mì của Nhật gọi là kishimen, sợi mì này dĩ nhiên làm bằng bột mì, dày và to bản, không giống sợi bánh phở chút nào.

Biết mình không đủ sức tạo ra hương vị quê hương trên đất khách quê người, thỉnh thoảng Y lại dẫn con về Việt Nam.

Lần đầu tiên là khi con được ba tuổi. Hai mươi năm trước, từ Tokyo về Việt Nam phải ghé Bangkok. Chuyến đi ấy chồng Y cũng có việc ở Bangkok nên họ đã dừng lại đây một tuần lễ trước khi về tới Sài Gòn. Hai mẹ con dắt nhau đi phố suốt ngày, và hơi liều lĩnh thử vài món ăn bán trên các xe hàng quà rong ở bên ngoài khách sạn. Đây là một sai lầm hết sức lớn mà Y ân hận mãi, vì khi về tới nhà và vừa ăn xong bữa cơm đoàn tụ với đại gia đình, thì con cũng bắt đầu đau bụng...

Từ đó thằng bé chỉ được uống sữa nóng và ăn cơm nắm với muối rang cho tới khi trở lại Tokyo. Đi khám và xét nghiệm thì bác sĩ Việt Nam kết luận rằng trứng lãi (sán) đã theo món ăn vào bụng của thằng bé từ khi ở Bangkok lận, về tới Việt Nam trứng mới nở ra... và quậy phá...Thế nhưng con trai của Y mới lên ba, làm sao đã hiểu được điều đó, mà trong đầu cậu bé chỉ còn lại một ấn tượng hãi hùng và hiểu lầm rằng ăn cơm Việt Nam dễ bị đau bụng.

Con trai của Y lại vốn ưa sự sạch sẽ và đẹp đẽ ngay từ khi còn bé. Cậu bé rất khảnh ăn, nên muốn cho con chịu ăn Y lại càng ra sức bày biện thật đẹp và thanh cảnh theo kiểu Nhật.
 
Vì muốn con bớt khảnh ăn, Y cũng phải bày biện các món ăn Việt Nam gần giống như món ăn Nhật, và khi nêm gia vị cũng phải tìm cách... sao cho khi ăn không thấy mùi nước mắm. Không bao giờ cậu bé chịu chấm nước mắm... nói chi tới mắm tôm, mắm cá...

Lần thứ hai Y đưa con về nước vào mùa xuân năm 1992 để kịp ăn Tết âm lịch, khi cậu bé được khoảng bảy tuổi. Họ về Hà Nội trước tiên và nghỉ tại khách sạn. Lần này Y cẩn thận chỉ cho con ăn trong khách sạn, không dám cho ăn uống ngoài đường.

Khi về quê nội, lần này cậu được mọi người chăm sóc, cẩn thận cho ăn những món đã nấu chín kỹ, vì ai cũng thương hại cậu bé lần trước đã bị đau bụng chẳng được ăn món gì.

Trong chuyến đi này vợ chồng Y còn đi thăm Huế. Gia đình Y đến Huế vào ngày mồng hai tết, khách sạn không có người khách nào khác ngoài vợ chồng Y và các em, con cháu trong họ. Hình như nhằm ngày Tết.

Hôm ấy khách sạn không dọn cơm nên sau đó họ qua cầu Trường Tiền vào phố ăn điểm tâm, đoạn đi thăm các lăng tẩm chùa chiền, rồi trở về Đà Nẵng ngay buổi chiều ngày mồng ba Tết để còn vào Sài gòn. Dĩ nhiên tới Huế họ không quên đi ăn bún bò Huế.

Niên khoá của Nhật Bản bắt đầu từ tháng tư. Dư luận đã nhiều lần nêu vấn đề đổi ngày khai giảng sang tháng chín, nhưng rốt cuộc họ vẫn giữ nguyên như cũ. Có lẽ trong tâm tình của người Nhật, hình như họ không thể nào nghĩ rằng những khởi điểm của cuộc đời họ - tức là khi bắt đầu đi học hay đi làm - lại không nhằm vào đúng mùa hoa anh đào nở. Do đó tháng hai là thời gian chuẩn bị thi cuối năm của niên học trước - học trò Nhật thường thi cuối niên học vào tháng ba.

Vậy mà năm đó khi con đang học lớp hai, vợ chồng Y đã liều lĩnh cho con nghỉ học ba tuần lễ về thăm nhà cũng vào tháng hai để con được biết thế nào là Tết ở quê hương. Chuyến đi này tuy phải hy sinh chuyện học, nhưng có lẽ đã không uổng công. Khi trở lại Tokyo cậu bé đã viết một bài văn về phong tục đón tết của người Việt.

Rồi tới mùa thu, tháng mười. Tháng mười ở Nhật có ngày lễ thể dục, các trường học đều tổ chức thi thể dục thể thao. Đó cũng là một ngày hội, để phụ huynh học sinh đến xem và gặp gỡ nhau trong sân trường, gia đình nào cũng đem theo cơm nắm và dọn ra để cùng ăn. Trước ngày lễ thể dục, Y đang loay hoay làm giò, chả quế để sẽ đem theo trong hộp cơm trưa ngày mai, thì bất ngờ làm sao, con trai Y đã tới bên mẹ, dặn dò nhớ nướng bánh tráng mè đem theo để mời các bạn học cùng ăn.

Y sung sướng đến lặng người khi nghe con dặn, mặc dù đó không phải là hương vị một món ăn Việt Nam do chính tay Y nấu, như các nắm cơm onigiri mà chắc chắn là bà mẹ Nhật nào cũng sẽ tự tay làm và đem tới.

Tối hôm lễ thể dục, trong bữa cơm, chồng Y vui vẻ hỏi con :
- Con thích ăn bánh tráng nướng của cô Ba cho đem về Nhật vậy à? Còn món ăn Việt nam thì con thích món nào?

Thằng bé đáp liền (bằng một vốn liếng tiếng Việt nghèo nàn, theo cú pháp tiếng Nhật thường hay lược bỏ chủ từ, và theo thói quen của nam giới Nhật là hà tiện lời nói).
- Phở Huế.

Hai vợ chồng Y hết sức ngạc nhiên nhìn nhau như thầm hỏi "Ủa, hồi tết đi thăm Huế, mình có cho con đi ăn phở à, mà ở hiệu nào vậy nhỉ?". Y không còn nhớ mình đã ăn phở ở quán nào ở Huế để mường tượng ra hương vị đặc biệt của bát phở đó. Nhưng tại sao con lại không thích phở Hà Nội hay phở Sài Gòn, mà lại là phở Huế?

Chồng Y bảo con: "Con thích phở Huế à? Phở ở Hà Nội và Sài Gòn cũng ngon vậy.Vậy có lẽ là con thích Huế nhất, nên ăn phở ở Huế là ngon nhất?". Chồng Y bỗng nhìn vợ âu yếm: "Ba thì phở mẹ nấu là ngon nhất!". Thằng bé lại nói: "Phở Huế của mẹ cũng ngon".

Y ngạc nhiên quá: "Phở Huế của mẹ?".
Chồng Y hỏi lại: "Mẹ có nấu phở Huế sao?".
Thằng bé vẫn quả quyết: "Có, mẹ có nấu".

- Phở Huế với phở thường của mẹ khác nhau thế nào mà con thích phở Huế?
Thằng bé đáp gọn và tỉnh bơ:
- Phở Huế cay.

Chồng Y bật cười vì chợt hiểu ra chữ "phở Huế" của con:
- Vậy là hôm ở Huế mình cũng cho con ăn thử bún bò Huế đó em ạ. Đối với con thì món nào cũng là " phở" hết!

Không biết đã gần hai mươi năm qua, Huế có thay đổi gì không. Cậu bé năm xưa nay đã trở thành một chàng trai. Chàng hay một mình rủ bạn Nhật tới các hiệu ăn Việt Nam ở Tokyo. Chàng hay chọn món gỏi cuốn, bánh cuốn, gỏi đu đủ xanh,... và dĩ nhiên... cả món phở Huế của chàng.

Quỳnh Chi

Quảng cáo
 
Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2006 Báo Lao Động - Cơ quan của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. All rights reserved.
Giấy phép số: 221/GP-BVHTT • Tổng Biên tập: VƯƠNG VĂN VIỆT • Phó Tổng Biên tập: Tô Quang Phán - Vũ Mạnh Cường
Địa chỉ: 15/167 Tây Sơn - Đống Đa - Hà Nội • ĐT: 04-5330304 - 5330305 • Fax: 04-5370141 Email: webmaster@laodong.com.vn
Báo mới - Tổng hợp tin tức tự động