Ngót nghìn năm trước, Vua Lý Thái Tổ khi chọn đất dời đô, ngắm cái địa thế của thành Đại La từng là lị sở thời phương Bắc cai trị, Ngài không chỉ nhìn thấy cái thế đất theo quan niệm phong thuỷ "rồng cuộn hổ ngồi" mà trực quan nhận diện ngay cái "địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt.." mà xác nhận đây là một thắng địa xứng với chốn "kinh đô bậc nhất của đế vuơng muôn đời".
Với dân ta, việc ứng phó với sông nước vẫn được coi là hệ trọng hàng đầu. Trong những mối đe doạ cuộc sống con người thì "thuỷ" vẫn xếp trước tiên rồi mới đến hoả hoạn, loạn lạc và giặc dã... Người Việt không thể dồn sức để xây Vạn lý Trường thành như người Trung Hoa hay Đế Thiên Đế Thích như người Campuchia, mà dồn sức để đắp một hệ thống đê điều không kém phần hùng vĩ. Trong thời bình thì việc hệ trọng hàng đầu của triều đình với dân cũng như trách nhiệm của làng xã với nhà nước chính là việc tổ chức đắp và giữ gìn đê điều khi có nước lớn hay chăm lo tưới tiêu để điều hoà việc "nước".
Những ngày này tôi bỗng nhớ đến một ông thầy đã quá cố. Năm 1975, đất nước mới hoàn toàn giải phóng, Giáo sư Trần Quốc Vượng cùng nhà Nho học Vũ Tuấn Sán viết sách "Hà Nội nghìn xưa". Hai thầy mơ về một Hà Nội đã đứng trước cơ hội "xây dựng lại to đẹp hơn và đàng hoàng hơn". Người ta mơ về những toà nhà cao tầng, những con đường cao tốc, những sân bay hiện đại, nhưng hai thầy chỉ mong... con sông Tô Lịch ngàn xưa sẽ được khai thông trở lại.
Cứ nói đến Hà Nội, thế nào thầy Vượng cũng vẽ ra một cái tam giác của 3 con sông được minh hoạ bằng câu thơ cổ: "Nhị Hà quanh Bắc sang Đông/ Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này". Và với riêng con sông Tô Lịch chảy ngang giữa lòng kinh thành uốn quanh hào thành qua Cống Chéo, Hàng Luợc đến Cầu Đông rồi chảy qua Hàng Buồm, Mã Mây đổ ra sông Nhị Hà nơi có một địa danh gợi cảm cho sự sầm uất là Chợ Gạo, thầy Vượng cho rằng chính là cái dòng chảy tạo nên cốt cách thanh lịch của dân Hà Thành.
Con sông ấy bị cạn một phần vì dòng chảy của sông Nhị Hà thay đổi, lại cũng vào lúc Thăng Long không còn là kinh kỳ nữa mà chỉ còn là tỉnh thành Hà Hội. Đến thời Tây sang cai trị, con sông này lại bị vùi dập bởi quy hoạch đô thị kiểu thực dân san thành lấp sông để lấy đất xây công thự. Ngay thời đó, những nhà cai trị thế hệ sau là những người có chuyên môn đã phê phán việc làm đó là sai lầm vì Hà Nội đẹp chính nhờ sông nước.
Nhưng họ cũng không làm được là bao vì thành phố Hà Nội thời thuộc địa bị đô thị hoá mạnh mẽ. Không chỉ con sông Tô mà khá nhiều hồ ao đã bị san lấp để xây nhà cửa. Bản đồ chưa cũ lắm còn vẽ một cái hồ khá to ở mặt sau mấy dãy phố chính như Hàng Ngang, Hàng Đào được gọi là hồ Sao sa (chắc xa xưa lắm có một khối thiên thạch nhỏ rơi xuống chăng) nay cũng bị lấp tạo ra cả một khu chợ búa sầm uất...).
Rồi hồ Lục Thuỷ xưa còn có tên là hồ Hoàn Kiếm cũng bị thu hẹp lại để mở đường trục từ Đồn Thuỷ qua Nhà hát Lớn rồi đi thẳng đến Cửa Nam để đến khu trung tâm hành chính cắm mốc bởi Phủ Toàn quyền (nay là Phủ Chủ tịch), nhiều hồ ở phía Nam Hoàn Kiếm cũng được san lấp để xây khu phố Tây và cho lớp thị dân mới khá giả của Hà Nội phát triển mạnh mẽ sau khi xây xong cầu bắc qua sông Cái...
Về số phận con sông Tô, sách của thầy Vượng viết: "Phù sa làm con sông Tô tắc dần. Phong kiến suy tàn bất lực trước việc trời. Thực dân Pháp chiếm Hà Nội năm 1883, chẳng những không nạo vét sông Tô, lại lấp hẳn nhánh sông Tô chảy giữa nội thành để làm phố. Thế là sông Tô chết yểu".
Đến ngày thống nhất non sông, Hà Nội lại đứng trước một cơ hội phát triển mới. Thầy Vượng viết trong sách một cách lạc quan rằng: "Năm 1954, Hà Nội bắt đầu cho khơi lại sông Tô để thải nước sinh hoạt và nước công nghiệp, để tưới ruộng lúa, vườn rau. Từ năm 1960, các kiến trúc sư phụ trách việc quy hoạch ấp ủ một dự kiến táo bạo hơn: Khơi lại và làm rộng dòng Tô, cho sông trở lại tuổi thanh xuân "vừa trong vừa mát", cho những ngôi nhà Hà Nội cao tầng soi bóng trên dòng Tô. Nhưng rồi Hà Nội phải tập trung sức người, sức của cho đánh Mỹ. Kế hoạch nạo vét lại sông Tô đến bây giờ mới được khởi công...".
Nhưng cho đến nay, lại bao nhiêu đổi thay dâu bể, con sông Tô nhiều đoạn đã phải đóng hộp bằng bêtông để tận dụng không gian cho công cuộc đô thị hoá mạnh mẽ dường như đang muốn thanh toán nốt tất cả những khoảng không soi bóng nước còn lại của một vùng đất có vẻ đẹp vì luôn soi mình trong bóng nước.
Bước vào thế kỷ này, những người nước ngoài yêu quý Hà Nội đã có một cuộc hội thảo tại Paris với chủ đề "Hà Nội, vòng quay của những biến dạng" (Hanoi le cycle des métamorphoses); một học giả người Pháp đã trình bày luận án của mình về mặt nước của Hà Nội trong lịch sử. Những tính toán, đo đạc chi ly của tác giả đã đưa ra con số: Chỉ trong vòng 100 năm qua, 90% diện tích mặt hồ của Hà Nội đã bị lấn chiếm làm nhà và làm đường.
Anh bạn người Pháp đã kết luận bài tham luận của mình bằng những lời có cánh nhưng rất sâu sắc: "Hồ của Hà Nội vẫn không ngừng cất lên tiếng nói cho những ai chịu lắng nghe, bức thông điệp từ sâu thẳm: Chúng tôi là cấu trúc vật chất của thành phố này, chúng tôi là âm bản của thành phố, chúng tôi là cánh cửa để đi tới những biểu tượng, chúng tôi là tấm gương phản chiếu tinh thần của Hà Nội mà mọi người đều cảm nhận, mãi mãi người ta vẫn vẫn còn phải tìm hiểu để định hình và mô tả nó...".
Đến hôm nay, đọc lại những dòng này tôi muốn viết thêm vào lời kết ấy rằng: "Chính vì để mất đi những mặt gương tinh thần ấy mà Hà Nội trở nên úng lụt như ngày hôm nay, vì khi lấp sông đi để lấy đất xây, người ta quên rằng đó là một hệ thống thoát nước hoàn hảo nhất của một thành phố ngàn năm đã từng soi bóng trên những mặt nước".
Bây giờ chỉ còn hy vọng vào "ơn trời mưa nắng phải thì"!