Tin mới nhận:  
Đăng ký tin thư
  Email của bạn
  
  
Quảng cáo
Nhân chi sơ (1)
Lao Động số 39 Ngày 28/09/2008 Cập nhật: 9:23 AM, 28/09/2008
(LĐ) - "Nhân chi sơ,/sờ tí mẹ,/Tính bản thiện,/miệng muốn ăn..."
Câu đồng dao bắt nguồn từ những câu mở đầu của sách "Tam tự kinh", một giáo khoa cho những người vỡ lòng chữ Hán thuở xa xưa.

Đến thế hệ của tôi, nó đã được biến tấu để cười cợt lối học cũ, loại chữ cũ... và đương nhiên cũng là cách kích bác thiên hạ đoạn tuyệt với chữ Hán vào lúc cách ghi âm tiếng Việt bằng hệ chữ Latinh lên ngôi và được vinh danh là "quốc ngữ".

"Hồn quốc ngữ,/chữ nước ta/con cái nhà/đều phải học..."

Thế là thứ chữ và cách viết thuở sơ khai nhằm khắc phục cái hàng rào ngôn ngữ cản trở việc truyền giáo của các giáo sĩ phương Tây manh nha từ hồi thế kỷ 16-17, đến đầu thế kỷ 20 thì được chính quyền thuộc địa ấn định là ngôn ngữ viết hành chính đứng sau chữ Pháp đã dần chiếm lĩnh đời sống ngôn ngữ của người Việt.

Cuộc Duy tân đầu thế kỷ 20 mang tinh thần dân tộc cùng với khao khát được thoát ra khỏi "thế giới Trung Hoa" để hội nhập với "thế giới ngoài Trung Hoa" (khi đó được hiểu là thế giới phương Tây) đã kích thích việc chấp nhận quốc ngữ và từ bỏ chữ Hán, đương thời được biểu trưng bằng hình tượng "quẳng bút lông, cầm bút sắt".

Rồi những nỗ lực của các trí thức, văn nghệ sĩ tiên phong trong đó có các nhóm như Âu Tây tư tưởng, Tự lực Văn đoàn... đã giúp cho quốc ngữ trau chuốt để xâm nhập được vào đời sống văn chương và học thuật. Cuối cùng là phong trào "Truyền bá quốc ngữ" tiếp nối khi Đại chiến Hai bùng nổ, đẩy mạnh quảng bá nhằm thức tỉnh số đông quần chúng nắm được công cụ ngôn ngữ để ý thức được nền tự chủ về văn hoá và chính trị của mình.

Và đến khi nền Cộng Hoà-Dân chủ được thiết lập thì chữ quốc ngữ lần đầu tiên được sử dụng như ngôn ngữ viết chính thức của nước Việt Nam độc lập (1945). Trong khi đó, chữ Hán từ chỗ lép vế trong đời sống xã hội cũng từng bước bị gạt bỏ khỏi đời sống giáo dục. Cuộc thi hương bằng chữ Hán cuối cùng được tổ chức vào năm 1919.

Năm 1919 mới cách đây 90 năm. Năm 1945 thì mới cách đây 63 năm. Như thế nếu đặt lên cái thước tượng trưng cho thời gian của lịch sử thì đoạn khúc người Việt dùng chữ Hán chiếm đến 95% chiều dài của cái thước, còn thời gian của chữ quốc ngữ mới ngắn ngủi làm sao!

Vậy mà, đến hôm nay, người biết chữ Hán thật ít ỏi. Cho dù gần đây người ta có xu hướng thích "chơi" chữ Hán hơn qua các bức thư pháp của thứ văn tự tượng hình vốn kích thích cảm hứng sáng tạo của người cầm bút; dù cho mấy ngành khoa học xã hội và nhân văn mỗi năm cũng đào tạo được một số người biết chữ Hán và Nhà nước vẫn duy trì một Viện Nghiên cứu Hán-Nôm có nhiều giáo sư, tiến sĩ, thì thứ chữ mà 95% thời gian tổ tiên của chúng ta sử dụng cũng chắc chắn sẽ mai một dường như không thể cưỡng nổi.

Có một thực tế là số đông người Việt Nam hôm nay đến các chùa chiền, đình miếu, nhìn vào các tấm sắc phong, các tập thần phả, ngọc phả của làng xã mình hay gia phả cổ của chính dòng tộc mình cũng ngỡ ngàng như đứng trước một ngoại ngữ. Số người trong làng còn đọc được cái di sản ngôn ngữ - lại là một thứ "tử ngữ" này - hẳn sẽ ngày một vợi dần. Nói không sai, khoảng cách của người Việt hiện đại với di sản của ông cha ngày càng lớn vì thiếu cây cầu ngôn ngữ...

Tôi đã được nghe lời phàn nàn của những người ít ỏi còn am hiểu chữ Hán rằng ở ngay những nơi biểu tượng cho trí tuệ quốc gia như Văn Miếu-Quốc Tử Giám hay đền Ngọc Sơn, chữ Hán chép sai hay câu đối đặt ngược cũng không ai biết. Và người phát hiện lại do mấy bạn người nước ngoài mách bảo! Một thời có người sáng kiến nhằm khắc phục tình trạng "mù tịt chữ nghĩa của tổ tiên" đã cho phiên âm và dịch nghĩa các câu đối rồi khắc vào đá hay sơn thành biển kiểu như phụ đề chữ quốc ngữ điền dưới khuôn hình của các bộ phim nói tiếng ngoại quốc. Nhưng rồi việc làm thiện ý này cũng bị phê phán hoặc vì thẩm mỹ hoặc vì ngữ nghĩa...

Lần sang Hàn Quốc mới đây trao đổi với các bạn đồng nghiệp về những tương đồng trong văn hoá Viêt-Hàn có đề cập tới vấn đề chữ viết. Đến thăm các cổ tích của Hàn thấy rất gần với ta không phải về kiến trúc mà là văn tự. Cũng những hoành phi, câu đối bằng chữ Hán, những người trong đoàn ta rành chữ Hán cũng cảm nhận được như bạn. Đó cũng là nét chung của các dân tộc Đông Á (thêm cả Nhật Bản) và rộng hơn là không gian của "thế giới Hán hoá" (monde sinisé) gồm thêm cả Singapore và những nơi có cộng đồng người sử dụng chữ Hán...

Người đưa ra thuật ngữ này là một nhà Đông phương học danh tiếng từng là Giám đốc Viễn Đông Bác cổ của Pháp (EFEO) tên là Léon Vandermeersch. Ông đưa ra một đánh giá gây chú ý: "Sở dĩ các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Singapore phát triển trở thành những "con rồng" chính vì họ vẫn dùng chữ Hán (hoặc có nguồn gốc từ chữ Hán)"(?)...

Sự đánh giá này có đúng không và vì sao cùng nằm trong không gian địa lý và văn hoá Đông Á mà Việt Nam ta không được nhắc đến khi liệt kê những con rồng nhỉ? Nghĩ ngợi cho cùng kỳ lý hẳn sẽ tốn nhiều chữ nên xin để tuần sau nghĩ tiếp...

Dương Trung Quốc

Quảng cáo
 
Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2006 Báo Lao Động - Cơ quan của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. All rights reserved.
Giấy phép số: 221/GP-BVHTT • Tổng Biên tập: VƯƠNG VĂN VIỆT • Phó Tổng Biên tập: Tô Quang Phán - Vũ Mạnh Cường
Địa chỉ: 15/167 Tây Sơn - Đống Đa - Hà Nội • ĐT: 04-5330304 - 5330305 • Fax: 04-5370141 Email: webmaster@laodong.com.vn
Báo mới - Tổng hợp tin tức tự động