Các đồng chí lãnh đạo huyện cười hóm hỉnh nói: "Nhà báo chỉ cần đến với một người là có đủ cả bốn điển hình ấy". Đó là Anh hùng LLVT - thương binh - đảng viên xuất sắc - nông dân sản xuất giỏi Nguyễn Văn Minh ở ấp Chiến Thắng, thị trấn Vĩnh Hưng.
Thương binh
Trải qua 10 năm tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông có đến 9 lần bị thương. Mà toàn thương tích nặng, như chấn thương sọ não, mất gần hết bàn tay, đầu đạn còn nằm sát màng tim... Ông đùa vui: "Người ta nói khi ra trận, ai nhát gan thì đạn tìm tới người đó. Nhưng tui đâu có nhát mà cứ bị thương hoài".
Những đồng đội từng chiến đấu bên ông cho biết, ông chẳng những không "nhát gan", mà còn rất "lỳ lợm". Là Đại đội trưởng Đại đội đặc công Kiến Tường lừng danh, ông từng một mình vào tận sào huyệt của đối phương một cách an toàn, nhưng khi trở ra lại bị vướng mìn, bị thương.
Trong chiến tranh biên giới Tây - Nam năm 1978, các chiến sĩ khâm phục sát đất một vị chỉ huy là thương binh nhưng luôn có mặt trên chiến hào. Ông đã chỉ huy bộ đội địa phương cố thủ thành công ở gò Măng Đa (thị trấn Vĩnh Hưng ngày nay), giáng cho bọn Pol Pốt những đòn trí mạng khi chúng tràn vào xâm chiếm nước ta.
Hình hài của ông thì đúng là thương binh: Mất gần hết một bàn tay, sẹo đầy người, dáng đi xiêu vẹo... Đó là "phần cứng", còn "phần mềm" cũng bị tổn hại đáng kể: Trí nhớ giảm sút, cơ thể đau nhức khi trái gió trở trời... Sau này, khi đi công tác từ huyện về tỉnh bằng xe gắn máy, ông bị tai nạn giao thông nặng, phần xương còn lành lặn cuối cùng cũng gãy nốt. Vậy là đời ông có đúng 10 lần bị thương tật.
Anh hùng LLVT nhân dân
Một lần, ông vào tham quan Bảo tàng tỉnh Long An, đã tình cờ gặp chuyện thú vị. Bảo tàng treo hình những anh hùng trong tỉnh (hầu hết đã mất) in trên vải lụa rất đẹp. Ông đứng ngắm chân dung của mình (lúc còn trẻ) trên tường. Có mấy cháu nhỏ trong đoàn học sinh tham quan bảo tàng cứ nhìn ông trân trân rồi nhìn hình ông treo trên tường. Một cháu rụt rè hỏi: "Thưa ông, đó là con ông phải không?". Ông vuốt đầu đứa bé trả lời: "Đó là hình ông lúc còn trẻ". Vậy là cả đoàn học sinh vây lấy và bắt ông kể chuyện trở thành anh hùng.
Năm 1971, Đại đội đặc công Kiến Tường do ông chỉ huy đã có một trận đánh để đời, lưu danh vào sử sách. Chiến đoàn giang thuyền mấy chục chiếc của đối phương từ lâu làm mưa làm gió vùng Đồng Tháp Mười mênh mông nước. Ông nghiên cứu kỹ địa hình và quyết định chặn đánh chúng tại xã Tuyên Bình.
Trận đánh kéo dài suốt 5 ngày, hầu hết chiến thuyền ở Đồng Tháp Mười của đối phương đã dồn đến trận địa. Các ông đã bắn cháy và bị thương 25 tàu chiến. Vào ngày cuối cùng của trận đánh, ông bị trọng thương, đứt gần hết bàn tay, khi đối phương đã bắt đầu tháo chạy. Với trận đánh ấy, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Nông dân sản xuất giỏi
Năm 1991, lúc đang là Huyện đội trưởng huyện Vĩnh Hưng, vì sức khoẻ kém, ông xin nghỉ hưu sớm. Nhà nước đã giúp ông số tiền năm triệu đồng cất nhà tình nghĩa. Thì ra sau gần ba chục năm chiến đấu, hy sinh, cho tới ngày nghỉ hưu ông vẫn chưa cất nổi căn nhà, phải sống nương nhờ nhà cha mẹ ruột. Nhưng ông chưa vội cất nhà, mà dùng số tiền năm triệu đó để khai khẩn đất hoang.
Từ giã môi trường quân đội, người thương binh anh hùng ấy đã xông vào trận địa khai hoang Đồng Tháp Mười, bắt đất hoang phải sinh ra của cải cho con người. Đến thời điểm ấy, vùng Đồng Tháp Mười vẫn còn mênh mông đất hoang bị nhiễm phèn nặng, không hứa hẹn nhiều điều tốt đẹp cho những người đi khai khẩn nó. Từng đợt từng đợt một, ban đầu một vài hécta, khi ruộng bắt đầu cho ra lúa gạo, ông khai khẩn tiếp.
Cứ thế, ông đã thuần hoá 5ha, 10ha rồi 15ha ruộng hoang. Ban đầu lúa chỉ đạt năng suất một vài tấn/ha, có khi không bù được chi phí. Nhưng với lòng kiên trì và sức chịu đựng của một người lính, cộng với những tính toán thức thời áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp, ông trụ được với cây lúa. Rồi những công trình thuỷ lợi của Nhà nước bắt đầu phát huy tác dụng, năng suất lúa của ông cứ tăng dần lên 4 tấn, 5 tấn, rồi 7 tấn, và hiện nay là 10 tấn/ha/vụ.
Thành công với cây lúa, ông tiếp tục đi tiên phong "kéo" về Đồng Tháp Mười một loại cây trồng mới, đó là dưa hấu. Không gập ghềnh trắc trở như con đường khai hoang làm lúa trước đây, trái dưa hấu đến với ông "ngọt ngào" và "tròn trịa" hơn nhiều.
Ban đầu ông trồng thử trên diện tích hẹp, thấy có kết quả, ông nhanh chóng mở rộng diện tích. Thì ra đất phèn Đồng Tháp Mười lại thích hợp với loại dưa hấu thân dài, vỏ cứng. Nhất là vụ dưa đông xuân, sau khi nước lũ rút cuốn theo một lượng phèn vô bổ, để lại một lớp phù sa mịn trên mặt ruộng, luôn cho những lứa dưa được thị trường trong và ngoài nước đặc biệt ưa chuộng.
Trong năm 2006, vụ đông xuân ông trồng 5ha dưa hấu, cho lãi 140 triệu đồng. Vụ hè thu, ông trồng tiếp 2ha, lãi hơn 40 triệu đồng. Rồi vợ con ông trồng lúa, nuôi heo, nuôi cá...
Nhìn ông ngồi nhịp đùi đợi cho nước lũ rút sẽ xuống giống vụ dưa, rồi nhìn cơ ngơi của ông hiện lên lồng lộng giữa biển nước lũ mênh mông, tôi càng thấm thía cái ý tưởng chung sống và làm giàu với lũ. Các con của ông đều được học hành và trưởng thành, chắc chắn sẽ còn đi xa hơn ông trên con đường chinh phục Đồng Tháp Mười.
Người đảng viên tiên phong
Mười mấy năm trước, ông đi tiên phong khai hoang đất trồng lúa, đã kéo theo nhiều người dân đi theo ông. Thành công của ông với cây dưa hấu tiếp tục khuyến khích bà con trong vùng. Một cánh đồng trồng dưa hiệu quả cao xuất hiện trên vùng Đồng Tháp Mười vốn chỉ quen với cây lúa, cây tràm.
Dù đã nghỉ hưu, nhưng ông luôn là đại biểu dự các kỳ đại hội Đảng từ thị trấn tới huyện. Ngôi nhà của ông là địa điểm của những đợt sinh hoạt chính trị quan trọng ở địa phương như điểm bầu cử Quốc hội, bầu cử HĐND, điểm sinh hoạt dân... Tiếng nói của ông đã giúp hoà giải thành công nhiều trường hợp bất đồng trong khóm ấp, không cần đến sự can thiệp của chính quyền.
Năm nay ông vừa đúng 60 tuổi, độ tuổi chưa phải là già, nhưng ngần ấy thương tích đã làm ông yếu đi nhiều. Ông không cần biết điều đó, vẫn ngày đêm tận tụy bên ruộng lúa ruộng dưa, có chút thời gian rảnh thì đánh cờ và nhậu rượu đế với bạn bè.
Ông không sợ lũ, trái lại còn thích lũ lớn. Ngoài những nguồn lợi khác, nước lũ bao giờ cũng giúp cho vụ dưa của ông "ngọt hơn". Mùa lũ vùng Đồng Tháp Mười kéo dài từ 3 đến 4 tháng, nhưng ông đã rút ngắn nó còn một nửa nhờ hệ thống đê bao lửng và máy bơm.
Thời gian trong năm thì có hạn, ông phải tận dụng từng ngày. Thời gian còn lại trong đời, sau khi đã đáp tròn nợ nước, cũng không nhiều, ông cũng phải tận dụng từng tháng, từng ngày!