Ông Lê Kiên Thành cho biết: Trước hết, tôi coi bố mình như một nhân vật lịch sử. Ông làm Tổng Bí thư 26 năm, lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến chống Mỹ. Với tư cách là người con, tôi cũng chưa hiểu cha tôi một cách trọn vẹn, tôi nghĩ ngay cả các đồng chí của ông cũng thế. Nói về ông thật khó, càng khó hơn khi gói lại vẻn vẹn trong một bài báo. Cho nên tôi chỉ xin được trao đổi những cảm nhận của tôi về một khía cạnh thôi, đó là quan niệm của ông về hạnh phúc.
Cha tôi là người đắm say với những suy nghĩ về đất nước. Tôi còn giữ lại một cuốn sổ làm việc của ông, trong đó ghi chép nhiều thứ, nhiều ký hiệu mà chỉ một mình ông hiểu. Có một trang ông ghi hai chữ "Hạnh phúc" thật lớn kèm theo một dấu hỏi. Tôi biết cha tôi đang loay hoay với hai chữ này. Ông đang tự hỏi mình muốn đem hạnh phúc đến cho con người, vậy thì hạnh phúc là gì?
Ông từng tâm sự rằng, khi bị địch bắt, bị đánh đập, bị giam cầm trong lao tù nhưng lòng ngập tràn hạnh phúc. Nhưng khi làm Tổng Bí thư, ngồi trên xe hơi nhìn thấy một người kéo xe bò đi bên đường lòng rất đau khổ. Ông đưa ra quan niệm sống làm sao để có được hạnh phúc thật sự.
Đã là hạnh phúc thì phải thực, không thể có sự giả dối. Hạnh phúc cũng phải được tiếp cận nhiều cách. Cách mà cố Tổng Bí thư dạy dỗ cho con cái tìm kiếm hạnh phúc chắc chắn sẽ rất sâu sắc?
- Đó là lao động, tình thương và lẽ phải. Mối quan hệ giữa lao động và sự hình thành của con người là một luận đề triết học căn bản của học thuyết Mác - Lênin được ông kiến giải một phần, đơn giản và giàu tính nhân văn. Một con người làm việc và làm việc tốt mới có được niềm vui. Cha tôi là một người làm việc say mê, làm việc không ngừng nghỉ. Ông là tấm gương mẫu mực về lao động và sáng tạo. Nhưng điều quan trọng hơn nữa, đó là phải có tình thương yêu.
Ông cắt nghĩa ngọn ngành về tình thương và đưa ra một triết lý rằng, tình cảm đẻ ra tri thức. Khi anh yêu nước hết lòng, yêu tha thiết thì anh sẽ nghĩ ra được những cái mới để phục vụ đất nước, những điều mà người bình thường không thể nghĩ ra. Một đồng chí của cha tôi kể lại, sau khi ký hiệp định Genève, lúc rất nhiều người vui thì ông lại rất buồn, trên chuyến tàu từ Bắc vào Nam, cha tôi khóc vật vã. Sau này tôi mới hiểu, là một người hết lòng với đất nước, ông dự cảm được rằng sẽ phải mất nhiều máu xương mới thống nhất được. Lòng sáng trong sẽ nhận biết được chính xác mọi thứ chính là ở chỗ đó.
Cố Tổng Bí thư luận về quy luật của tình cảm và có dẫn chứng khi bàn về quy luật ấy?
- Cha tôi kể trong thời kỳ hoạt động ở miền Nam, có lần một người ở cơ sở bị địch bắt, tra tấn dã man nên phản bội. Pháp bắt nhiều đồng chí cán bộ cách mạng để cho người này nhận mặt. Ông ta chỉ từng người, nói rõ họ tên chức vụ, nhưng đến ông Lê Duẩn thì ông ta lắc đầu. Tất cả mọi người bị chỉ điểm đều bị xử tử hình.
Sau này cha tôi suy nghĩ mãi điều gì ngăn kẻ phản bội ấy nhận mặt ông để lập công với Pháp. Rồi cha tôi tự giải thích rằng trong thời gian ở nhà của người này để hoạt động, cha tôi đã dạy cho con ông ấy học, yêu thương con cái ông ấy hết lòng như một người cha. Có lẽ vì tình yêu thương chân thành ấy của cha tôi đã thức tỉnh lương tâm của người phản bội vào giây phút quyết định sinh tử ấy.
Còn hai chữ "lẽ phải", cố Tổng Bí thư đã luận giải như thế nào, thưa ông?
- Có một lần đoàn làm phim đến chiếu cho cha tôi xem phim về Lý Tự Trọng. Xem xong ông đứng dậy đi ra ngoài. Sau khi đoàn làm phim đề nghị nhiều lần, ông đã góp ý: "Tôi nói thật, tôi thấy các đồng chí nghĩ khác tôi quá. Các đồng chí cứ nghĩ người ta đi làm cách mạng là vì nghèo khổ. Tại sao không hiểu rằng nhiều người đi làm cách mạng là vì lẽ phải. Hàng vạn chiến sĩ đang vượt Trường Sơn vào Nam chiến đấu là vì lẽ phải".
Cha tôi luôn tìm tòi, sáng tạo trong lý luận, ông không xơ cứng. Ông là người thuyết phục được nhiều trí thức ở miền Nam, nhiều người tài đi theo cách mạng là bằng lẽ phải. Ông không to tát dùng khái niệm lý tưởng một cách dễ dãi, ông dùng hai chữ lẽ phải để áp dụng trong từng cái nhỏ nhất, sự ứng xử trong các mối quan hệ từ gia đình, ra xã hội và rộng hơn là đất nước.
Ngoài câu chuyện về hạnh phúc để mọi người cùng suy nghĩ và tiếp cận, ông có thể nói điều gì có dấu ấn sâu sắc của riêng mình với tư cách là con trai của cố Tổng Bí thư?
- Tên tôi là một lời nguyền. Lời nguyền đó được chứng nghiệm sau 20 năm. Năm 1955, trong chuyến tàu cuối cùng đưa cán bộ cách mạng ra Bắc, cha tôi có mặt trên tàu để nghi binh, nhưng sau đó ông ở lại miền Nam. Mẹ tôi đang mang thai tôi nhưng không thể ở lại, bởi vì nếu có mẹ tôi thì địch sẽ biết ba tôi đang ở miền Nam. Chia tay nhau, cha tôi nói với ông Lê Đức Thọ rằng: "Anh nói với Bác Hồ 20 năm nữa tôi mới có thể gặp được Bác".
Với mẹ tôi và các đồng chí, cha tôi cũng nhắn gửi rằng phải mất hai mươi năm chiến đấu mới thống nhất được đất nước. Ra Bắc, mẹ tôi sinh tôi vào lúc 11h trưa ngày 17.4.1955, đặt tên Lê Kiên Thành, theo khẩu hiệu "Kiên quyết hoàn thành cách mạng miền Nam". Đúng hai mươi năm sau, 11h30 trưa ngày 30.4.1975 thì giải phóng Sài Gòn.
Cố Tổng Bí thư từng đưa ra những khái niệm như "làm chủ tập thể", mô hình "kinh tế cấp huyện", ông đánh giá thế nào khi hiện nay người ta không còn bàn đến các khái niệm và mô hình đó nữa?
- Những quan điểm trên và rất nhiều ý kiến, quan điểm khác của cha tôi không được tiếp tục bàn đến nữa. Rất may mắn là vì lý do nào đó, người ta đã trả lại đúng cho tác giả là cha tôi. Những quan điểm của ông hàm chứa nhiều giá trị khoa học về quản lý kinh tế nhưng chưa được đánh giá hết. Sau này chắc chắn sẽ có những nghiên cứu và đánh giá khoa học về những lý luận này và sẽ khẳng định đó là sáng tạo của cá nhân ông.
Tôi xin nói thật, riêng về những lý luận của cha tôi, với góc độ cá nhân và gia đình, tôi rất tự hào vì đó là những suy nghĩ rất lớn. Nhưng với tư cách công dân thì tôi rất đau khổ, vì những sáng tạo trong lý luận của cha tôi không được tiếp tục vận dụng để đưa vào thực tiễn.
- Xin cảm ơn ông.