Tính ra, chị đã làm chủ nhiệm 3 đề tài cấp nhà nước và 10 đề tài cấp bộ, chủ trì 7 đề tài nhánh cấp nhà nước và 1 đề tài do nước ngoài tài trợ.
Chị là PGS-TS Nguyễn Thị Minh Hạnh - Chủ nhiệm bộ môn Đường bột - Viện Công nghiệp thực phẩm. Sau 3 năm nghiên cứu, đến 2006, PGS-TS Minh Hạnh đã hoàn thành đề tài nghiên cứu nói trên. Đây là công trình đầu tiên ở nước ta nghiên cứu SX 1 sản phẩm mới maltooligosacharit giàu maltotrioza, sử dụng thành tựu mới nhất của công nghệ sinh học thế giới là các enzim đặc hiệu AMT (maltotriose forming amylaza) để chế biến tinh bột.
Ý nghĩa khoa học của công trình còn là xây dựng được quy trình công nghệ và thiết bị trên quy mô công nghiệp cho SX maltotriose phù hợp với điều kiện của VN. Sản phẩm SX ra đã được ứng dụng như 1 loại đường chức năng để nâng cao chất lượng các sản phẩm thực phẩm như bánh kem (tăng khả năng định hình bánh), đồ uống (giữ ổn định màu và tăng nồng độ chất của nước quả mà không làm tăng vị ngọt của đồ uống), kem...; thay thế đường kính và có tác dụng chữa bệnh như chống táo bón và đặc biệt có thể hấp thụ vào máu một cách từ từ, do đó giữ ổn định độ đường trong máu.
Điều đáng nói là công nghệ SX sản phẩm mới tận dụng được trang thiết bị của các cơ sở chế biến tinh bột, tiết kiệm được 95% vốn đầu tư ban đầu cho 1 sản phẩm mới, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư áp dụng nhanh chóng, dễ dàng công nghệ mới. Sản phẩm SX ra mang nhiều ưu điểm trong chế biến thực phẩm cũng như thực phẩm chức năng, có lợi cho người tiêu dùng; công nghệ chế biến sử dụng nguồn nông sản trong nước là tinh bột, do vậy nâng cao được giá trị hàng nông sản đồng thời tạo thêm được việc làm cho NLĐ; giá thành sản phẩm do SX trong nước nên rẻ hơn so với nhập ngoại là 5.000đ/kg...
Với những ưu điểm trên, công nghệ SX maltooligosacharit giàu maltotrioza đã được chuyển giao SX cho Cty Minh Dương SX, với công suất 2.500kg bột/mẻ. Nếu SX hết công suất, đạt 6.000 tấn sản phẩm/năm và có thể lãi khoảng 30 tỉ đồng.
Điều mà các đồng nghiệp khâm phục ở PGS-TS Minh Hạnh là các quy trình công nghệ đều được nghiên cứu phù hợp với điều kiện VN, nên đã xây dựng được nhà máy và SX tiêu thụ trên thị trường với công suất lớn.
Điển hình như công nghệ SX dịch đạm thuỷ phân từ đậu tương bằng phương pháp enzim, ứng dụng dịch đạm để SX thực phẩm chay (thịt thực vật dạng tươi, giò chay, paté chay, phù trúc) được Cty TNHH Minh Đức, Minh Dương sử dụng; công nghệ bảo quản các loại cam, bưởi, vải bằng công nghệ sinh học, lý, hoá học và nghiên cứu chế biến các loại quả nhiệt đới thành các sản phẩm jelly, nhân kẹo, necta...được ứng dụng chuyển giao kỹ thuật cho Lâm trường Đông Triều (Quảng Ninh), Cty bánh kẹo Hải Châu, Cty bánh kẹo Thăng Long; các công nghệ SX chè hoà tan sử dụng đường mía, nâng cao hiệu suất kết tinh đường phèn, thu nhận axít từ tằm vàng được ứng dụng tại Quảng Ngãi...
PGS-TS Minh Hạnh còn tham gia giảng dạy và hướng dẫn hàng chục lượt sinh viên làm luận văn tốt nghiệp, luận án thạc sĩ, tiến sĩ. Trí tuệ và công sức của chị đã được minh chứng bằng giải thưởng Kovalepskai tập thể năm 1996; 7 bằng LĐ sáng tạo của Tổng LĐLĐVN; giải ba Cuộc thi các nhà khoa học nữ năm 2002 và giải nhất khoa học nữ năm 2006 của Bộ Công nghiệp (cũ).