Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ
Khởi đầu là một cục máu ở tĩnh mạch chi dưới ; cục máu được tạo thành do một số yếu tố thuận lợi như:
Sự ứ đọng ở tĩnh mạch do không vận động lâu khiến cơ không còn tác dụng đẩy máu lên, đặc biệt khi nằm bất động lâu ngày hoặc các chuyến đi xa bằng máy bay, xe hơi.
Cũng có khi do suy tim làm cho lưu lượng máu thấp. Những bất bình thường về mặt sinh học: Biến đổi về hormon (đặc biệt do tác động của nicotin trong thuốc lá), các bệnh do viêm nhiễm, ung thư...
Bất thường sinh học bẩm sinh: Do thiếu hụt một số yếu tố bẩm sinh khiến cho các bệnh nghẽn tắc tĩnh mạch dễ tái phát và cần điều trị suốt đời.
Về mặt lâm sàng:
Bệnh cảnh lâm sàng cổ điển của bệnh thuyên tắc tĩnh mạch sâu là sưng, đau ở bụng chân với cảm giác nóng. Nếu gấp bàn chân thì càng đau hơn (dấu hiệu Homans). Đôi khi có thể sờ thấy một dải cứng dưới da khi có viêm tắc tĩnh mạch nông - nhẹ và thường không gây ra tắc mạch phổi.
Cần phân biệt với 3 thể bệnh sau:
Khối máu tụ ở sâu: Điều trị bằng thuốc chống đông làm trầm trọng thêm các triệu chứng. Bệnh viêm quầng (erysipela), một bệnh nhiễm trùng dưới da ở cẳng chân.
Bệnh lý hậu Viêm tắc tĩnh mạch: Cẳng chân nhạy cảm, thường có giãn tĩnh mạch nổi rõ, đôi khi có màu da hơi sẫm. Có di chứng của viêm tĩnh mạch: Giãn các van tĩnh mạch gây mất trương lực.
Cũng cần lưu ý rằng bệnh viêm tắc tĩnh mạch gập nhiều hơn ở những người có tuổi.
Chỉ có thể chẩn đoán là thuyên tắc tĩnh mạch sâu khi nhìn thấy hình ảnh máu cục. Có nhiều phương pháp để chẩn đoán hình ảnh như âm vang Doppler tĩnh mạch, chụp tĩnh mạch...
Tiến triển của bệnh thuyên tắc tĩnh mạch sâu
Nếu được điều trị đúng cách, đa số trường hợp bệnh thuyên tắc tĩnh mạch sâu đều khỏi, không để lại di chứng. Tuy nhiên vẫn cần nhắc đến 3 thể biến chứng.
- Tắc mạch phổi.
- Cục máu to lên, đi vào hệ thống tĩnh mạch và tăng nguy cơ bị tắc mạch phổi.
- Bệnh hậu tắc tĩnh mạch: Mạng tĩnh mạch sâu bị tắc một phần hay toàn bộ khiến cho mạng tĩnh mạch nông phải đảm nhiệm công việc đưa máu trở về tim, vì thế giãn ra và các van tĩnh mạch trở nên suy yếu, xuất hiện các triệu chứng như hai cẳng chân nặng nề và đau, rối loạn dinh dưỡng ngoài da, phù... những biến đổi đó làm cho sự ứ đọng tăng lên và dễ bị viêm tĩnh mạch tái diễn.
Điều trị: Không cần vào viện điều trị nếu như nghẽn tắc tĩnh mạch không nghiêm trọng. Liệu pháp chống đông bằng heparine tiêm dưới da thường được sử dụng, kết hợp với thuốc chống vitamin K ngay từ ngày đầu. Chỉ ngừng dùng heparine khi tỏ ra có tác dụng.
Nên đứng dậy đi lại vào ngày thứ 2 hay thứ ba.
Mang băng nịt cẳng chân ngay từ ngày đầu để mạng tĩnh mạch sâu đưa máu trở về tim, tăng khả năng tái hấp thu và phòng ngừa bệnh hậu viêm tĩnh mạch. Bao giờ cũng cần mang băng nịt trước khi đứng dậy (trừ khi phải thực hiện nhu cầu khẩn cấp) và mang băng nịt cả ngày, trong nhiều tháng.
Thuốc chống vitamin K cũng cần dùng trong nhiều tháng, một số trường hợp còn dùng suốt đời (khi có bất thường về cấu trúc cơ thể hay bị viêm tĩnh mạch tái diễn). Tuyệt đối không hút thuốc lá.