Các đánh giá ban đầu đều cho thấy, VN là quốc gia có đầy đủ điều kiện để phát triển và phát triển mạnh các dạng NL tái tạo, nhưng chúng ta cũng chỉ mới đặt mục tiêu khiêm tốn đến 2010, tỉ trọng NLTT chiếm trên 3% so với các nguồn NL truyền thống khác.
Đa dạng các nguồn NL
Nằm trong vùng nhiệt đới, số giờ nắng trung bình khoảng 2.000- 2.500 giờ/năm, tổng NL bức xạ mặt trời trung bình khoảng 150kCal/cm2.năm, VN được xem là quốc gia tiềm năng về NL mặt trời. Tuy nhiên, đến nay ứng dụng của NLMT chủ yếu vẫn là pin mặt trời để cấp điện cho các hộ gia đình ở vùng sâu, vùng xa, làm giàn đun nước nóng... NL gió và địa nhiệt cũng có tiềm năng.
Theo những phân tích của Viện Năng lượng (Bộ Công Thương), vùng có tiềm năng gió tốt tập trung ở khu vực ven biển và vùng cao nguyên, đặc biệt là ven biển miền Trung, Nam Trung Bộ và hải đảo có vận tốc gió trung bình lớn hơn 4m/s (ở độ cao 12m trên mặt đất) có thể ứng dụng các loại động cơ gió phát điện.
Khả năng điện địa nhiệt với hơn 300 nguồn nước khoáng nóng có nhiệt độ bề mặt từ 30-1050C, tập trung tại Tây Bắc, Trung Bộ dự báo đến 2025 cho khai thác từ 200 - 400MW điện. Việc sản xuất điện từ sinh khối (gỗ củi, các phế thải từ gỗ, phụ phẩm cây trồng...) cũng đang được thực hiện tại hơn 40 nhà máy đường.
Bã mía là nguyên liệu chính được đốt để tạo ra 2 sản phẩm cuối cùng là điện và hơi. Hiện nay, một số nhà máy đường đã bán điện thừa cho lưới và đang dự kiến mở rộng công suất phát điện từ nguồn bã mía. NL tái tạo lớn nhất phải kể đến là thuỷ điện nhỏ.
Với 9 hệ thống sông chính chảy về VN, cùng hàng ngàn sông suối nhỏ với vận tốc dòng chảy lớn, VN hiện là 1 trong 14 nước giàu thủy năng trên thế giới. Đến nay, tổng công suất thuỷ điện nhỏ đã đạt 135MW với hơn 500 trạm thuỷ điện nhỏ.
Theo số liệu từ các chuyên gia NL: Tỉ trọng điện tái tạo trong tổng lượng điện sản xuất là rất khiêm tốn, khoảng 3,1% năm 2002 giảm xuống còn 2,5% đến năm 2005 và đang có xu hướng giảm nữa do nguồn điện truyền thống đang gia tăng mạnh mẽ.
Nhiều rào cản
Mặc dù nhiều tiềm năng, song VN hầu như vẫn chưa ứng dụng được bao nhiêu NLTT vào phát triển sản xuất, đặc biệt là sản xuất điện và nhiệt năng. Do phần lớn các công nghệ NLTT thường còn quá đắt, vận hành và bảo dưỡng tương đối phức tạp trong khi đó chúng thường được ứng dụng cho các khu vực nông thôn, miền núi xa mạng lưới NL quốc gia, bộ phận lớn cư dân nông thôn có mức thu nhập thấp và trình độ dân trí chưa cao khiến các công trình NLTT thường chỉ phát triển khi có nguồn tài trợ nước ngoài hoặc chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Các dạng NLTT do tính sinh lợi thấp, khả năng hấp dẫn của các dự án này kém hơn nhiều so với các dự án đi từ NL truyền thống (điện lưới quốc gia, xăng dầu và than...).
Trong một số trường hợp các dạng NL thương mại còn được bao cấp, trợ giá của Nhà nước, vì vậy các DN không mặn mà đầu tư do rủi do cao. Liên quan đến chính sách và khung pháp chế để khuyến khích NLTT, theo các chuyên gia, cũng chưa đủ mạnh, đặc biệt là điện tái tạo, kể cả hợp đồng mua bán điện cũng như giá mua điện hiện nay khiến nhà đầu tư vào nhà máy điện gặp nhiều khó khăn.
|
* Trên thế giới đã có 43 quốc gia, 18 bang của nước Mỹ (và một quận của bang Columbia) và 3 tỉnh của Canada đã thiết lập chương trình mục tiêu về NLTT, trong đó có 25 nước EU, 10 nước đang phát triển.
Theo đánh giá dự báo thì đến năm 2009 sẽ đầu tư 13,6 tỉ USD để tiến hành các chương trình năng lượng biển. Các chương trình này tập trung chủ yếu ở khu vực biển khơi Châu Âu.
Lúc đó sẽ khai thác khoảng 7.700MW, tương đương với 7 nhà máy điện nguyên tử. Có khoảng 2.234 tuabin gió với vốn đầu tư 4 tỉ USD trên biển sẽ được đưa vào khai thác.
* Tại Châu Á, một quỹ đầu tư cho NLTT với 50 triệu euro đã được thiết lập và đặt trụ sở tại Thái Lan, với mục tiêu là tiến hành các trợ giúp và đầu tư cho các Cty và dự án khai thác NLTT tại khu vực Châu Á.
Theo dự kiến, quỹ sẽ trợ giúp cho 10 - 15 dự án khai thác NLTT với tổng trị giá của các dự án khoảng 200 - 400 triệu euro và sản lượng khai thác sẽ đạt 150 - 500MW. Mục tiêu của quỹ đầu tư là sẽ làm giảm 20 - 30 triệu tấn khí CO2 thải vào khí quyển. |