Chúng tôi làm việc cho một dự án xóa đói giảm nghèo. Trong khi nhóm chuyên gia chỉ chọn các vùng lân cận khu thị xã và thành phố làm điểm mẫu thì chúng tôi chọn đi tới những ấp xa xôi và khó khăn nhất của mảnh đất này.
Tất cả những gì chúng tôi mong muốn không chỉ là làm cho xong việc sớm hoặc dễ dàng mà là được sống trọn vẹn cho những gì chúng tôi tin là sẽ góp phần thay đổi được.
Làm việc với "đầu gấu"
Sự may mắn đã khiến tôi được gặp anh Thiều Quang Đức và anh Chúng ở Ban Quản lý dự án. Các anh đưa chúng tôi xuống Vĩnh Châu và xã ven biển xa xôi. Chúng tôi lội bộ trên còn đường đất đỏ mưa xối xả. Hai bên đường là thảm rừng ngập mặn.
Các anh chỉ cho tôi cỏ diệu, thứ cỏ mà hiện giờ dân đang dùng nuôi lợn nhưng hơn 3 năm trước chính đó cũng là món ăn của nhà hai anh. Tôi im lặng khi nghe đến số tiền lương ít ỏi mà họ nhận, trăn trở và cảm phục trước những gì họ đã cố gắng.
Những người dân tái định cư nơi đây trước kia sống trong rừng. Họ biệt lập với xã hội. Họ là những... "đầu gấu" (cách gọi những người một thời vẫy vùng giang hồ). Họ bị lãng quên nên ngay cả tên của họ cũng không có trong bản đồ di dân của chính quyền.
Các anh tìm đến, thuyết phục họ, sống cùng trăn trở của họ, hứng chịu những cơn cuồng nộ của họ chỉ với niềm tin rằng khi yêu con người ta sẽ hiểu.
Tôi hỏi vì sao các anh có thể chịu đựng như vậy, anh Chúng chỉ cười: "Cuộc sống như một hành trình đi tu. Bạn đừng sống vì tiền mà hãy sống vì đức độ". Tôi quay sang nhìn vạt hoa bèo tím ngắt và tiếp tục tiến về con đường bùn sâu tận bắp chân.
Quà tặng là trái tim
Ngày đầu tiên xuống ấp Mò Ó, chúng tôi phải đi đò. Sông nước mênh mông với các ngôi nhà lá dừa. Chúng tôi mời toàn dân của ấp lại. Bà con cô bác nhìn chị Nga (cán bộ dự án) và tôi ngần ngại. Họ không dám ngồi cùng chúng tôi trên chiếc ghế mọt. Họ sợ làm chúng tôi bẩn quần áo.
 |
| Một trong những nhà nghèo tại ấp Mò Ó. |
Thấy chỗ họp chỉ rộng 6m2 nên tôi quyết định ngồi xuống đất. Bà con thấy vậy nên yên tâm ngồi lại. Có lẽ không bao giờ tôi quên cái khoảnh khắc dân ấp khi nhận quà của dự án và khóc. Họ quá nghèo để biết đến tờ báo (để mua được 1 tờ báo 1.000đ thì phải tốn 13.000đ tiền xe ôm mới có được), 1 cốc trà đá pha đường là thứ quá xa xỉ và đương nhiên họ không dám mơ rằng một ngày nào đó, sẽ có một đoàn như đoàn chúng tôi đến.
Chúng tôi không phải là những nhà từ thiện, cũng không đủ sức giúp họ làm những điều họ muốn nhưng chúng tôi sẵn lòng đi tới nơi họ đang sống; để chia sẻ cùng họ những ưu tư của cuộc sống; để trái tim cùng đập, cùng đồng cảm với họ... Rồi chúng tôi quay lại thành phố với mong muốn thay đổi được điều gì đó dù nhỏ nhoi cho họ.
Chúng tôi trùm áo mưa lặn lội qua từng con kênh. Muỗi ở những vùng ngập nước cắn đỏ rát. Mọi người can nhưng chúng tôi vẫn đến vùng xa xôi nhất của Vĩnh Châu. Chúng tôi ngồi lại, gặp gỡ với nhiều gia đình nghèo trong ấp.
Họ kể với chúng tôi về cuộc đời của họ. Họ khóc còn chúng tôi cay xè nước mắt. Sự khắc nghiệt của thiên nhiên thật chẳng thể nào bằng sự tàn nhẫn của con người. Họ là điển hình của việc bảo vệ rừng xuất sắc, nhưng không phải vì tiền mà chính vì những người như anh Chúng, anh Đức, những người đã cùng chịu đau, chịu khổ với họ...
Chúng tôi mải mê làm việc mà không biết anh chị Huỳnh Văn Ngót (chủ nhà nơi chúng tôi dừng chân) đếm từng đồng bạc 500đ nát để đãi chúng tôi một bữa lẩu. Họ bảo mời chúng tôi bữa cơm nghèo và mong các anh chị ở thành phố đừng chê. ƠÁt cay quá nên mắt lại cay xè.
Chúng tôi lại bước thấp bước cao đi về. Đi được khoảng 2 giờ thì anh chị chạy theo đưa cho chúng tôi chiếc áo mưa rách vì sợ chúng tôi bị ướt. Tôi tiếp tục đi trên con đường đất đỏ, trong đầu văng vẳng mơ ước giản dị của anh Ngót: "Tui chỉ ước 1 lần được ra thăm Lăng Bác".