Vì vậy mô hình phối hợp đầu tư giữa nhà nước và tư nhân có thể sẽ là một lối ra mới cho hạ tầng cảng biển.
Quản lý cảng biển còn bất cập
Theo ông Vương Đình Lam - Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam (HHVN): Tại Việt Nam hiện nay, đa phần vẫn áp dụng mô hình cảng biển thuộc quyền quản lý của Nhà nước. Mô hình này có nhiều hạn chế trong quản lý tài chính. Đồng thời, việc quản lý đầu tư và hoạt động thường đem lại hiệu quả thấp, trong khi đó chi phí bỏ ra nhiều. Nếu đem so sánh với các mô hình quản lý quốc tế thì hệ thống cảng biển của chúng ta đem lại nguồn kinh phí thu thấp, hiệu quả vận hành kém hơn.
Trong khi đó, số cảng biển của VN hiện mới chỉ dừng lại con số 49 cảng, trong đó có 7 cảng biển được quản lý bởi Bộ GTVT, 20 cảng thuộc các thành phố và tỉnh, được quản lý bởi các chính quyền địa phương của một số bộ khác. Các cảng quan trọng nhất của Việt Nam là Hải Phòng, Cần Thơ, Đà Nẵng, TP.Hồ Chí Minh được quản lý bởi TCty HHVN.
Ngoài ra theo số liệu của Cục HHVN, năm 2008 các cảng khu vực TP.Hồ Chí Minh nắm giữ tới 72% tổng số container được vận chuyển, trong khi đó chỉ có 22% được vận chuyển qua phía bắc thuộc cảng Hải Phòng và cảng Cái Lân. Điều này cho thấy sự chênh lệch rất nhiều giữa sự phát triển hệ thống cảng Bắc - Nam và chưa tương xứng với những tiềm năng vốn có.
Theo Cục HHVN: Để phát triển hệ thống cảng xứng với tiềm năng tự nhiên của VN trong kế hoạch phát triển của hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2010, Cục HHVN đã định hướng kế hoạch xây dựng hệ thống cảng biển, tạo nền tảng hạ tầng góp phần phát triển kinh tế.
Mặt khác, cục chủ trương đề xuất phương châm phát triển cảng theo hệ thống cảng trải dài trên toàn quốc chứ không chỉ phụ thuộc lớn vào 2 khu vực cảng tại TP.Hồ Chí Minh và Hải Phòng. Điều này cũng sẽ mở ra cơ hội hình thành những chuỗi cảng biển liên hoàn.
PPP mở hướng đầu tư mới
Tuy nhiên, với định hướng như vậy thì rất cần một sự thay đổi về cơ chế quản lý cũng như huy động vốn đầu tư cho hạ tầng cảng biển. Kinh nghiệm về phát triển cảng biển trên thế giới cho thấy, có hai dạng quản lý cảng phổ biến là: Cảng biển dịch vụ công cộng và cảng biển tư. Ưu điểm của mô hình cảng biển tư, với sự tham gia rất tích cực của khu vực tư nhân ngay từ khâu xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp trang thiết bị và vận hành đã cho thấy những hiệu quả tích cực.
Có thể thấy, mô hình PPP trong phát triển cảng biển của Việt Nam đã bắt đầu có tín hiệu tích cực đối với nhiều nhà đầu tư (kể cả trong nước lẫn quốc tế) đều mong muốn tìm kiếm cơ hội phát triển trong lĩnh vực này. Đơn cử, cảng VICT: Ban đầu là cảng cổ phần tại TP.Hồ Chí Minh; sau đó, một số đối tác nước ngoài đã mua lại cổ phần của đối tác VN và trở thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Mô hình này được áp dụng khá nhiều tại một số nước phát triển. Hay như mô hình cảng Cái Lân - đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép các thành phần, các doanh nghiệp góp vốn đầu tư thuê hạ tầng cảng để khai thác.
Đại diện của Viện Thuỷ lực Vương quốc Bỉ cho rằng: Sự phát triển cảng biển theo mô hình PPP là tất yếu của bất kỳ nền kinh tế nào. Làm cảng theo PPP sẽ tạo hiệu quả cao hơn trong quản lý cảng và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam, khi nguồn vốn nhà nước hạn hẹp thì việc huy động các nguồn vốn khác là hết sức quan trọng...".
Một số chuyên gia cho rằng, cảng biển VN nên được phát triển theo hướng PPP là: Vốn nhà nước đầu tư vào cơ sở hạ tầng cảng, còn các trang thiết bị cảng sẽ được đầu tư bởi các DN thuộc các thành phần kinh tế.