Đúng là sách giáo khoa vẫn viết như vậy về vua quan nhà Nguyễn, để triều chính thối nát khiến nước mất, dân khổ, trí thức bị xếp xó... Nhưng tôi chợt nhớ đến một bài khảo cứu của một nữ đồng nghiệp là tiến sĩ sử học có đăng trên tờ báo của tôi cách nay đã hơn một con giáp, với đầu đề là một câu hỏi: "Vua quan triều Nguyễn có lắng nghe và tin cậy Nguyễn Trường Tộ?" (*). Xin được tóm lược ý chính :
Nguyễn Trường Tộ là một trí thức theo đạo Thiên chúa. Vào thời buổi ấy, do những hệ lụy lịch sử mà triều đình Việt Nam đã từng sai lầm khi chủ trương "sát tả" (chống đạo), cho người theo đạo là "vong bản". Do vậy một trí thức theo đạo Thiên chúa hẳn khó đuợc triều đình tin dùng là điều dễ hiểu. Nhưng thực ra tuy theo đạo, nhưng Nguyễn Công Trứ không chỉ có đầu óc thông tuệ mà lại là người nặng lòng yêu nước, muốn tìm ra con đường để đất nước có thể chấn hưng và thoát khỏi nạn binh đao với phương Tây bằng những cải cách kinh tế và xã hội.
Trong hoàn cảnh ấy, Chỉ có một cách là Nguyễn Công Trứ viết những bản điều trần trình bày ý kiến của mình, đưa ra những giải pháp, phương cách "cứu nước" và dâng gửi lên triều đình. Dù tư liệu lịch sử đã thất lạc khá nhiều, những linh mục Trương Bá Cần cũng sưu tầm, gạn lọc được tới 58 văn bản với hàng chục vạn chữ (Hán) đề cập tới rất nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống từ những vấn đề nay ta gọi là chiến lược đến những điều hết sức cụ thể... Phần lớn những điều trần này được ông gửi tới các đại thần trong "cơ mật viện" hay "lục bộ" như Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành, Ngụy Khắc Đản hay Phạm Phú Thứ...
Điều đáng nói là các bản điều trần ấy đều được các đại thần tiếp nhận và thực hiện rất đầy đủ những quy định của triều đình (được chép rõ trong các bộ điển chế). Các vị phải đọc kỹ và làm các bản tấu trình hay "tờ nghĩ"tức là nói rõ quan điểm của mình đối với văn bản để nhà vua tham khảo đồng thời đánh giá năng lực các quan lại của mình. Tiếp đó nhà vua đích thân viết "châu phê" bằng son đỏ bày tỏ quan điểm của mình và có những chỉ lệnh cần thiết. Trong nhiều văn bản nhà vua còn dùng bút son của mình "khuyên" những điều hay hoặc sửa chữa những sai sót về câu chữ.
Những ai có điều kiện tiếp cận với các khối lượng văn bản được gọi là "châu phê" hiện còn lưu trữ được (tuy không đầy đủ) có thể hình dung được khối lượng công việc của một ông vua phải làm (ở đây là Vua Tự Đức) nặng nề đến chừng nào. Chỉ dựa vào những tài liệu hiện còn tiếp cận được cũng đủ thấy thái độ của các đại thần trong triều cũng như của Vua Tự Đức là rất trân trọng khi đọc những điều trần của Nguyễn Trường Tộ cũng như của một vài trí thức theo đạo Thiên chúa khác như Nguyễn Điều, Lê Văn Điều, Lê Văn Trung"... cho dù tâm lý nghi kị "vong bản" không phải là không còn.
Người ta còn đọc được trong "thực lục" là bộ sử biên niên của triều đình chép việc Nguyễn Trường Tộ được vời về Kinh để giúp triều đình giải quyết việc liên quan đến con tàu mang tên "London" hay việc nhờ "thảo thư gửi Tây Soái" tức là gửi viên Đô đốc Lagrandière nhằm tìm cách ngăn chặn các hoạt động khiêu khích của thực dân. Sử liệu còn lưu lời "Châu phê" của Vua Tự Đức với lá thư do Nguyễn Trường Tộ soạn, rằng: "Bài này lý lẽ rất mềm dẻo, rất nghiêm chỉnh và trang nhã... thật là không thèm dạy mà vẫn như dạy cho họ vậy".
Rồi sau nhiều bản điều trần và việc làm khác, Vua Tự Đức lại "châu phê" rằng: "Nguyễn Trường Tộ có thể dùng được. Hay là cho quan chức để lấy lòng và dùng sức". Rồi sai Trần Tiễn Thành và Phạm Phú Thứ về tận quê thăm và mời, nhưng vị trí thức họ Nguyễn viện cớ "thể chất yếu đuối" nên không nhận quan chức mà chỉ xin tiếp tục được điều trần và làm những gì triều đình sai khiến.
Sử liệu còn cho biết Vua Tự Đức không chỉ đọc và thân ban "châu phê"cho các điều trần của Nguyễn Trường Tộ mà còn yêu cầu phải thống kê lại đã có bao nhiêu nguyên bản điều trần và có bản nào chưa trình thì chuyển cho nhà vua xem cũng như nhắc nhở phải bảo quản cẩn thận khỏi để mất. Sử sách cũng cho thấy càng ngày càng có nhiều đại thần được tiếp xúc với các bản điều trần để nghiên cứu và vận dụng những gì thích hợp trong đó có cả Nguyễn Tri Phương, Hoàng Tá Viêm là những người sau này đứng đầu phái "chủ chiến". Đặc biệt là từ sau năm 1864 khi nguy cơ xâm lược của thực dân Pháp từ Nam Kỳ đang đe doạ mở rộng ra phía Bắc thì quan hệ của trí thức họ Nguyễn với các vị đại thần, các cơ quan tối cao và kể cả nhà vua có thể nói là thường xuyên và mật thiết...
Rốt cuộc lại, cũng có những nội dung trong các điều trần của Nguyễn Trường Tộ đã được áp dụng, cũng còn có nhiều điều không được hoặc chưa thể vận dụng theo quan điểm của triều đình. Lý do có nhiều những chắc chắn không phải là sự "bỏ ngoài tai" hoặc sự coi thường trí thức của triều đình nói chung và Vua Tự Đức nói riêng đối với Nguyễn Trường Tộ nói riêng và giới trí thức nói chung.
"Lấy lòng và Dụng sức" vẫn là ứng xử truyền thống của người xưa trong thuật trị nước.