Ông Thiệu một tay cầm lái, một tay chếch vành mũ cối bạc thếch lên để lộ khuôn mặt đen thui cháy nắng, cười hỉ hả: "Thợ bắt chuột chính cống đây".
Lần đường con chuột chạy
Cơ ngơi của ông Thiệu cũng tuềnh toàng như cái dáng nhom nhem của ông. Căn nhà nhỏ nằm ngay dưới vệ đê sông Hồng ám đầy khói bếp, mờ hiện một cuộc sống không ít nhọc nhằn. Lúc ông Thiệu trờ xe về tới cổng thì trời cũng đã nhá nhem.
Bà vợ ông tất tả thồ hai thùng cám cho lợn ăn, thằng con thứ hai lúi húi nấu cơm chiều, còn thằng cả đang ngủ queo. Cả hai con ông đều chỉ học hết lớp 9 là nhất loạt trường một nơi, người một nẻo, cũng chỉ bởi cái sự nghèo đeo đẳng.
Vậy mà từ 40 năm nay, ông Thiệu vẫn kiên trì bám một nẻo đường mưu sinh. Ấy là lần theo vết chân chuột, bắt chuột làm thịt bán cho đám người khoái khẩu những món ăn dân dã. Cái biệt danh ông nông dân SBC (săn bắt chuột) được gán cho ông là vì thế.
Năm nay tròn 48 tuổi, nghĩa là ông Thiệu hành nghề từ ngày lên 8 tuổi. Ông nhớ lại: "Ơ thôn Đoài, xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng này ngày trước có 7 người làm nghề SBC, trong đó có cụ thân sinh ra tôi. Khi tôi còn nhỏ, ông cụ đã dắt theo khắp đồng trên ruộng dưới cho học nghề. Bây giờ những thợ bắt chuột xưa đều đã không còn, chỉ mình tôi vẫn rong ruổi bám nghề".
Nhà 4 người mà chỉ có 4 sào ruộng, ngày mùa bây giờ ngắn chẳng tày gang, còn tháng ba ngày tám thì cứ lê thê, nên không kiếm nghề phụ thì chỉ có đói! Ông Thiệu kiên trì bám lấy cái nghề lang thang đi tìm dấu chân chuột, bởi nó tuy vất vả hơn đi xây, đi mộc, nhưng công lãi cũng thế, hơn nữa ông không có ai cạnh tranh.
Làm nghề SBC như ông cả ngày dung dăng ngoài đường. Nay Chèm, mai Bưởi, hôm Dịch Vọng, bữa Láng, Giảng Võ, Thanh Xuân..., hai bánh tre tròn của ông lăn mỗi chuyến cả đi lẫn về khoảng trên 50 cây số.
"Thế ra ông không bắt chuột đồng?". "Ngày xưa đúng là chỉ bắt chuột đồng. Nhưng chuột đồng ngày xưa to, béo, có những con cày ủi tung cả bờ vùng, tóm được đem cân nặng những hơn 1 kýlô. Bây giờ chuột đồng bé lắm, nên tôi chỉ bắt chuột ở thành phố" - ông nói, rồi chỉ vào những thứ đồ nghề đơn giản. Một chiếc xe, con chó, vài chiếc vợt và một cái cũi nhốt chuột, chỉ có vậy.
"Trong đó quý nhất là ở con chó. Giống chó săn phải được chọn kỹ lưỡng. "Đốm lưỡi thì nuôi, đốm đuôi thì thớt"; "Bàn chân quả quýt bổ đôi/ Đôi mắt lá táo không sâu không lồi/ Cánh mũi dâm dấp mồ hôi/ Lưng thon thắt đáy, cái đuôi vòi đàn"..., ông đọc tràng dài những tiêu chuẩn về chó rồi xoè rộng bàn tay xù xì, chai sạn vuốt ve lên lớp lông mượt của con chó săn cưng.
Nó đã theo ông 4 năm rồi. Bao nhiêu đường chuột chạy, phải nhờ có nó ông mới lần ra được. Kỹ nghệ tìm đường chuột chạy để gài bẫy bắt, chừng như chỉ những người trong nghề mới hiểu được.
 |
| Những con chuột sau khi thui, mổ trắng phau sẽ được thực khách tìm tới tận nhà hỏi mua, hoặc quẩy ra ngoài chợ. |
"Người sành giờ khoái thịt chuột cống (!?)"
Một năm chỉ đôi tháng vụ cấy, vụ gặt ông Thiệu mới ở nhà và một tháng gần 15 ngày, ông rong ruổi cùng con chó cưng lần theo những đường chuột chạy, hành nghề. Và trí nhớ sần sùi của ông không thể nhớ nổi trong chừng ấy năm, bao nhiêu con chuột đã bị tiêu diệt. Tuy cái nghề này cũng như đi câu, bữa đực bữa cái, nhưng chưa ngày nào ông về tay không.
Hôm nào ông về tới nhà thì trời cũng đã nhọ mặt người. Lũ chuột rung rúc trong chiếc lồng sắt được chằng buộc cẩn thận chờ tới sáng hôm sau mới đem ra làm thịt.
Ông luôn miệng khoe món thịt chuột giờ là đặc sản! Ngày nào cũng tạt qua quãng Phùng, thấy mấy quán nhậu cỡ lớn đều trương biển "đặc sản thịt chuột", ông mới biết thế. Mà một cân thịt chuột có giá 50.000 đồng, người ta vẫn tranh nhau mua, không phải đặc sản là gì? Ông cho là chí lý lắm.
Trong cuốn "Miền quê Văn Giang" của tác giả Lê Văn Ba, NXB Văn hoá Dân tộc, trang 50 cũng có những dòng viết về món thịt chuột, một đặc sản ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên: "Những con chuột to, sau khi lột da trắng mịn, luộc chín, xé nhỏ chấm muối ăn, thêm mấy sợi lá chanh, ngon và bổ hơn cả thịt gà". Đấy là món chuột đồng hồn quê, hồn cỏ.
Còn theo nhẽ của ông Thiệu, "người sành ăn bây giờ khoái thịt chuột cống hơn. Chuột đồng giờ nhỏ lắm, thịt lại nát. Chuột cống 5-6 lạng một con là thường, thịt lại chắc, dai, nên người ta khoái là phải".
"Nhưng chuột cống thì hôi lắm?". "Có cách làm thì ắt hết hôi thôi mà. Phải biết cách mổ, tách hạch, tách hòn của nó".
Nói một thôi một hồi, rồi ông Thiệu chỉ vào đám chuột trong lồng, bảo: "Đám này mai đem thui như thui chó, mổ trắng phau, chẳng mấy mà bán hết. Người ta mua về rồi thì hấp, xào lăn, nướng chả, nấu giả cầy... Nhiều món lắm, ngon lắm!".