Thứ Năm, 4.3.2010 | 08:20 (GMT + 7)
Với người dân nơi đây, từ lâu ca trù được coi như "báu vật" mà bao đời nay họ vẫn âm thầm giữ truyền như trách nhiệm với tiền nhân.
Làng lúa, làng ca
Đến làng Lỗ Khê gặp các bậc cao niên mà nhắc đến ca trù, dường như lại được nghe cái sự bồi hồi về thời kỳ hoàng kim của lời ca, tiếng phách. Chuyện kể, ngày trước mỗi dịp tết đến, cả vùng tưng bừng rộn rã, tiếng trống chầu, phách, lời ca của đào nương hoà trong sự sênh sang của men rượu ngày xuân.
Chẳng cần nói nhiều, ai ở nơi đây cũng cho rằng nơi đây chính là đất tổ của nghệ thuật ca trù. Tôi mang sự thắc mắc đến gặp “nhà sử học” của làng Lỗ Khê là cụ Hoàng Kỷ (83 tuổi). Cụ Kỷ bảo tất cả đều có thần phả ghi chép đầy đủ cả, không thể bịa ra lấy tiếng được.
Trong ngôi nhà thờ tổ ca trù của làng hiện vẫn lưu giữ bản thần phả do tiến sĩ Đào Cử thời nhà hậu Lê biên soạn. Thần phả ghi: “Tổ sư của ca trù Lỗ Khê là Đinh Dự (con trai của Đinh Lễ - tướng của Vua Lê Lợi) và vợ là Đường Hoa Tiên Hải. Hai người đã mở học đường dạy ca trù năm Bính Ngọ 1426”. Học trò của 12 họ thuộc 11 làng quanh vùng theo học, riêng Lỗ Khê có hai họ là Nguyễn Thế và Nguyễn Văn.
Không chỉ lưu giữ được bộ thần phả, trong ngôi nhà thờ tổ còn lưu giữ tượng hai vợ chồng tổ sư, 5 đạo sắc phụng sao của các vị vua triều Nguyễn; 4 chữ đại tự hoành phi: Sinh - từ - tự - điển. Cụ Kỷ cho rằng đây là giáo phường hàng phủ duy nhất còn lại đầy đủ để có thể chứng minh về lịch sử ra đời và phát triển của ca trù.
Hơn 600 năm nay, ca trù ở Lỗ Khê chưa bao giờ bị gián đoạn, dù ở trong hoàn cảnh biến cố của dân tộc. Bởi không chỉ trách nhiệm giữ gìn di sản của tổ tông, mà môn nghệ thuật này có thời gian dài còn là nghề phụ của làng. Cụ Kỷ cho biết, Lỗ Khê vốn nghề làm ruộng là chính và hát ca trù được xem là nghề phụ.
Ở vào thời kỳ hưng thịnh, làng có độ 500 – 600 nhân khẩu, thì có tới 40 ca nương, đào kép thường đi hát hội hè, đám cưới, đám khao... Làng còn được quan phủ Kinh Bắc (Lỗ Khê trước thuộc Kinh Bắc) cấp giấy chứng nhận đi hành nghề ở vùng lân cận như Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Phúc Yên...
Trong các làn điệu ca trù, Lỗ Khê theo truyền thống hát cửa đình. Cụ Hoàng Kỷ cho biết: “Ca trù thể hiện cái hay, cái đẹp, cái nhân văn, uyên bác. Nghề này vốn được xã hội tôn trọng, vì nó chứa đựng sự thanh cao”. Người sáng tác ca trù phải là người uyên bác, tinh tế, những nhà nho thuở trước như Nguyễn Công Trứ, Tú Xương, Cao Bá Quát, Dương Khuê... mới sáng tác được.
Sáng tác đã khó, để hát được còn khó hơn. Cụ Nguyễn Văn Tân (83 tuổi, người từng đứng đầu gánh hát) cho hay: “Người hát phải biết nghe đàn, người đàn phải biết thể cách về phách, kỹ thuật hát khó ở việc nén hơi, nhả chữ. Dạy hát ca trù chủ yếu trong dòng tộc, họ hàng truyền cho nhau là chính. Lúc 11-12 tuổi bắt đầu theo học, đến năm 17-18 tuổi mới có thể đi hát được”. Sau những ngày chân lấm tay bùn, đến tháng 3, tháng 8 nông nhàn, đêm đêm từng tốp trẻ trong làng lại ngồi quây quần dưới ánh trăng nghe các ca nương già truyền dạy.
Người làm sống lại những điệu múa cổ
Theo cụ Kỷ, ca trù vốn sinh ra ở nông thôn, khoảng đầu thế kỷ XX người ta mới ra thành phố mở nhà hát. Khi lối sống Âu hoá ngày càng du nhập mạnh vào Việt Nam, ca trù bắt đầu cũng dần bị biến tướng. Trong những nhà hát xuất hiện những cô đầu rượu, kiêm tiêm thuốc phiện. Khách khứa xô bồ, trong hơi men chếnh choáng cùng với cái đê mê của làn khói thuốc. Ở giữa chốn đó thì sự thanh cao của lời ca, tiếng phách bắt đầu bị vấy bẩn, mang tiếng xấu oan.
Từ vị thế được xã hội coi trọng, nghề ca trù bị người đời kỳ thị, coi khinh. Sự oan nghiệt đáng sợ tới mức cả những người đã từng gắn bó với môn nghệ thuật này cũng kiên quyết rũ bỏ, dù trong lòng còn không ít vấn vương. Cứ thế, dần dần theo thời gian, ca trù ngày càng bị mai một. “Là người hiểu và say mê ca trù từ bé, thấy cảnh như thế, tôi buồn lòng lắm” - cụ Hoàng Kỷ nói.
 |
| Cụ Hoàng Kỷ - người bao năm miệt mài với việc giữ truyền di sản. |
Vậy là sau 40 năm khoác áo lính, năm 1990 cụ Kỷ trở về bắt đầu góp sức vào cái nghiệp ca trù của làng vốn đang nhạt nhoà. Như cụ nói cũng là quay trở lại với niềm đam mê thuở thiếu thời.
Sự đóng góp tâm huyết của cụ Kỷ bao nhiêu năm nay đã được dân làng Lỗ Khê ghi nhận. Từ những ngày đi sưu tầm tài liệu, đến gặp các nghệ nhân già trong làng để hỏi, nghe và ghi chép; đêm đến ngồi dịch và biên soạn lại thành tài liệu mới đem phổ biến cho bà con trong làng và những người tìm hiểu về ca trù. Cụ đi đến từng nhà vận động các thanh - thiếu niên đi học hát. Giáo trình do cụ biên soạn, thầy dạy là những nghệ nhận già trong làng tâm huyết với việc gìn giữ ca trù như cố nghệ nhân Phạm Thị Mùi, Dương Thị Diện, Nguyễn Thị Nhớn...
Nhìn vào kho lưu trữ cho ca trù Lỗ Khê của cụ Kỷ với 46 thể loại bài cổ, sáng tác được 45 bài mới, có thể xem đây như tài sản quý báu. Chính vì thế khi làm hồ sơ đem ca trù đến UNESCO xét duyệt, nhiều cán bộ của ngành văn hoá đã về đây lấy tư liệu. Năm 2007, cô Alinenor Anisensel - người Pháp khi làm luận án tiến sĩ về ca trù cũng tìm đến Lỗ Khê, đến gặp cụ Kỷ để được “chỉ giáo”.
Trong bộ tài liệu cụ đưa tôi xem, thấy còn sưu tầm được 11 điệu múa, đặc biệt là những điệu múa cổ. Tôi chợt nhớ vào dịp mừng xuân Kỷ Sửu năm 2009 cũng là chào mừng 999 năm Thăng Long – Hà Nội, do thành phố Hà Nội tổ chức, làng Lỗ Khê tham gia 3 điệu múa cổ là múa: Dâng hương, tứ linh và múa tiên - đều do cụ Hoàng Kỷ truyền dạy. Những điệu múa này đều ra đời từ cách đây 900 năm.
Giữ được đến ngày nay không phải là điều dễ, có đến Lỗ Khê mới hiểu, đội diễn viên múa không chuyên của làng giờ đã khá thành thục với những điệu múa này, bên cạnh sự miệt mài rèn luyện, họ vẫn nhớ như in ngày nào cụ Hoàng Kỷ chống gậy ra dạy từng động tác.
“Sau năm 1945, các điệu múa cổ này rơi vào quên lãng, chẳng ai còn nhớ. Có những điệu múa cổ thuở nhỏ đã được xem tôi cố nhớ lại, cùng những tài liệu cũ sưu tầm được để đọc, tôi bắt hình dung để hướng dẫn các cháu động tác, tư thế, chân tay phải như thế này, thế kia. Cả người dạy và người tập cố gắng lắm rồi, nhưng cũng chỉ tương đối thôi” - cụ Kỷ cười bảo. Cái sự tương đối kia cũng đã là một đóng góp rất lớn lao, thậm chí nó còn đi trước trong việc phục hồi những điệu múa cổ mà ngành văn hoá đã phát động phục vụ cho đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội.
Đến nay còn một điệu múa cổ là múa bài bông, cụ Kỷ vẫn không khỏi băn khoăn vì mới chỉ dạy được lời, còn phần thực hành do nhiều khó khăn nên chưa thể thực hiện. Bởi điệu múa này tối thiểu cũng phải 8 người, tối đa 32 người, quá trình tập rất công phu. Theo tài liệu, đó là điệu múa do tướng Trần Nhật Duật (thời nhà Trần) biên đạo.
Ươm mầm cho mai sau
Năm 1992, với sự nỗ lực của những người tâm huyết, CLB Ca trù Lỗ Khê được thành lập, đến năm 1994 được Phòng Văn hoá huyện Đông Anh đầu tư kinh phí giúp hoạt động. Là người có công xây dựng từ những ngày đầu và vẫn gắn bó cho đến nay, có lẽ không gì vui hơn với cụ Kỷ khi thấy được những sự duy trì, phát triển của ca trù nơi đây.
Những lớp nghệ nhân hát ở cái thời cách đây hơn nửa thế kỷ như cụ Nhớn, cụ Sông, cụ Vân, cụ Tô sắp như “lá rụng về cội”, hoặc như cụ Phạm Thị Mùi đã đi xa cũng đã có 2 học trò cưng tiếp nối là chị Nguyễn Thị Mận (38 tuổi) và chị Nguyễn Thị Thảo (35 tuổi). Chị Mận đã từng giành 7 huy chương vàng, 2 huy chương bạc ở liên hoan hội diễn nghệ thuật do Nhà nước tổ chức.
Ca trù đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại, điều đó là vinh dự lớn cho cả dân tộc. Thế nhưng ở một nơi được xem là cái nôi của ca trù việc đầu tư để gìn giữ và phát triển cho loại hình nghệ thuật này dường như chưa được chú trọng đúng mức. Có lẽ với Lỗ Khê, ca trù có được như hôm nay là gượng lên từ ý thức trách nhiệm với tổ tiên.
Cụ Kỷ nhẩm tính, Lỗ Khê hiện phải có đến 60 người từ trung - thanh - thiếu niên theo môn nghệ thuật này. Chỉ tính thời gian gần đây, nếu như lứa chị Mận, chị Thảo được xem là thế hệ thứ hai, thì những nghệ nhân trẻ này nay lại đang tiếp tục vun đắp tiếp cho thế hệ thứ ba.
Những em thế hệ tương lai của ca trù Lỗ Khê tỏ ra bẽn lẽn, e thẹn khi được hỏi, nhưng khi nghe những lời ca “Mênh mang một điệu ca trù ngày xuân” của các em vang lên lại thấy có sự tự tin, vững vàng khác thường. Tiếng hát đó sẽ còn vang xa.