Đã có nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực so với kết quả khảo sát hồi tháng 4.2009 khi Việt Nam tiếp tục chịu tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Những đánh giá tích cực
Cuộc điều tra này khá cập nhật khi tiến hành lấy ý kiến từ hơn 200 nhà ra quyết định đầu tư đang hoạt động tại Việt Nam hoặc có quan tâm lớn tới Việt Nam trong thời gian tháng 10 và tháng 11.2009. Chỉ có 10,5% số người tham gia cuộc khảo sát này là NĐT cá nhân, còn lại là các tổ chức như quỹ đầu tư, CTCK, Cty luật và các NĐT tổ chức khác.
Theo đánh giá của ông Ken Atkinson - TGĐ Grant Thornton Việt Nam, cuộc khảo sát lần này cho thấy sự tiến triển khi các NĐT và các DN chưa niêm yết đang hướng đến Việt Nam với nhiều tự tin và cái nhìn lạc quan hơn so với cuộc khảo sát hồi tháng 4.2009: "Nhìn chung những NĐT vào nhóm DN chưa niêm yết tại Việt Nam thường rất thận trọng, dành nhiều năm cho việc khảo sát thị trường và các phân khúc thị trường trước khi chính thức tham gia. Với việc nền kinh tế Việt Nam cho thấy những dấu hiệu phát triển mạnh mẽ, trong khi những nền kinh tế khác trên thế giới đang suy thoái, ngày càng có nhiều NĐT xem Việt Nam như điểm đến tương lai của họ".
Cùng với nỗ lực tăng trưởng từ đầu năm đến nay của Việt Nam trong khi khá nhiều quốc gia khác gặp khó khăn, đánh giá về triển vọng của nền kinh tế trong 12 tháng tới đã có sự cải thiện đáng kể: Hơn 59% ý kiến ghi nhận tích cực trong khi quan điểm này hồi tháng 4 chỉ là 36%. Một dấu hiệu tích cực khác là chỉ có 18% người được hỏi cho biết họ không thấy lạc quan đối với nền kinh tế, giảm từ mức 31% theo ghi nhận trong tháng 4.2009.
"Mặc dù nền kinh tế vẫn có một số vấn đề và điểm yếu cơ bản, sự tăng trưởng kinh tế tích cực mà Việt Nam đạt được trong năm 2009 cho đến nay đã làm át đi quan điểm bi quan của một số nhà bình luận thị trường vốn rất phổ biến ở thời điểm trước đây khi cuộc khảo sát đầu tiên của chúng tôi được tiến hành tháng 4.2009" - ông Matthew Lourey - GĐ tư vấn tài chính DN của Grant Thornton - nhận xét.
Theo ý kiến từ cuộc khảo sát, Việt Nam vẫn còn là điểm đến thu hút đầu tư hơn hẳn so với các quốc gia khác. Điều này một phần do sự phát triển liên tục của nền kinh tế, trong khi các nền kinh tế khác phải đối mặt với suy thoái và một phần bắt nguồn từ nhận thức tiêu cực đối với đầu tư vào các nền kinh tế cạnh tranh truyền thống như Trung Quốc hay Thái Lan.
Có tới 67% ý kiến phản hồi cho rằng Việt Nam là điểm đầu tư hấp dẫn hơn các quốc gia khác. 63% ý kiến cho biết dự định sẽ tăng đầu tư vào Việt Nam. Dù vậy báo cáo cũng lưu ý rằng các NĐTNN cũng đang gặp khó khăn trong việc kêu gọi các nguồn đầu tư mới ở thị trường hiện tại và cũng vẫn phải đối mặt với những khó khăn về nguồn vốn, do đó thời điểm thật sự của sự gia tăng đầu tư vào Việt Nam vẫn là vấn đề khó tiên đoán.
Một số kết quả khảo sát cũng chỉ ra rằng, các ngành nghề được xem là hấp dẫn đầu tư nhất bao gồm y tế và dược phẩm, trong khi vận tải và kho vận kém hấp dẫn nhất. Các lĩnh vực khác được xếp thứ tự từ hấp dẫn đến ít triển vọng nhất tiếp theo là bán lẻ, dịch vụ tài chính, địa ốc, khách sạn du lịch, nông nghiệp, sản xuất...
"Các ý kiến từ cuộc khảo sát tiếp tục cho thấy ngành bán lẻ là một trong những lĩnh vực đầu tư hấp dẫn nhất ở Việt Nam, tuy vậy chúng tôi nhận thấy có sự thay đổi khi các ý kiến khảo sát cho rằng y tế và dược phẩm là lĩnh vực triển vọng nhất. Tuy nhiên, rất khó để xác định ý kiến này xuất phát từ quan điểm cẩn trọng, hay từ những khó khăn mà các nhà NĐT mới đã gặp phải khi đầu tư vào lĩnh vực bán lẻ tại Việt Nam.
Trong thời kỳ bất ổn về kinh tế, những ngành đầu tư hấp dẫn nhất thường sẽ là những lĩnh vực ít chịu ảnh hưởng từ thị trường, như y tế, vốn không được chú trọng đầu tư ở Việt Nam" - ông Ken Atkinson - TGĐ Grant Thornton Việt Nam - nhận xét.
Những trở ngại
Một thay đổi đáng chú ý trong đánh giá của NĐTNN về những trở ngại đầu tư tại Việt Nam là yếu tố cơ sở hạ tầng được đặt lên hàng đầu, thay thế quan ngại về thủ tục như kết quả khảo sát tháng 4.2009. Gần 95% ý kiến cho rằng cơ sở hạ tầng là một trở ngại đáng kể để đầu tư tại Việt Nam. Vấn đề thủ tục chỉ còn xếp thứ năm, sau những lo ngại về tham nhũng, kiểm soát tiền tệ, luật liên quan đến sở hữu bất động sản.
Cũng trong đợt khảo sát mới này, vấn đề tiếp cận vốn được nêu lên nhiều hơn. Có tới 77% ý kiến cũng tin rằng hiện khó và rất khó để tiếp cận vốn vay tại Việt Nam. Con số này đã tăng một chút so với khảo sát hồi đầu năm (76%). Đặc biệt, với những ý kiến cho rằng tiếp cận vốn là trở ngại chính trong quyết định đầu tư chỉ xếp sau vấn đề cơ sở hạ tầng và tham nhũng.
"Do nguồn vốn vay đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn tất các giao dịch góp vốn vào Cty cổ phần, sự khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn là một hạn chế của việc đầu tư. Những hạn chế bắt buộc về cho vay của NHNN cộng với hệ thống ngân hàng nhìn chung còn chưa trưởng thành (bao gồm cả việc thiếu các tổ chức xếp hạng tín dụng) làm nản lòng các NĐT muốn thực hiện việc đầu tư vào Việt Nam theo cách tương tự như họ có thể thực hiện được tại các nước khác" - báo cáo nhận xét.