Các vấn đề quyết định chính trong một trường đại học là: tài chính, phân bổ tài chính, mức học phí, chương trình học, thuê giáo viên, trả lương cho giáo viên, cất nhắc và bổ nhiệm giáo viên và giáo sư, chính sách tuyển sinh.
Nếu những vấn đề này chủ yếu do nhà nước quyết định thì trường được coi như trường công, còn nếu chủ yếu do bản thân nhà trường quyết định thì được coi là trường tư. Lưu ý cách phân loại này không đặt vấn đề sở hữu lên hàng đầu. Đại bộ phận các đại học tư hoạt động như các doanh nghiệp phi vụ lợi, tuy cũng có trường hoạt động vì lợi nhuận.
Tình hình đại học công - đại học tư của các nước công nghiệp phát triển ra sao? Thông tin sau là từ báo cáo của G. Psacharopoulos (CESifo DICE Report 4.2004).
| Nước |
Tỉ lệ tư nhân của phần GDPdành cho giáo dục cao đẳng đại học (%) |
Số trường trong 100 trường đứng đầu thế giới |
| Áo |
0,0 |
1 |
| Đan Mạch |
0,0 |
1 |
| Phần Lan |
0,0 |
1 |
| Hy Lạp |
0,0 |
0 |
| Na Uy |
0,0 |
1 |
| Bỉ |
7,7 |
0 |
| Pháp |
9,1 |
4 |
| Bồ Đào Nha |
9,1 |
0 |
| Đức |
10,0 |
7 |
| Italia |
11,1 |
1 |
| Thụy Điển |
11,8 |
4 |
| Hà Lan |
16,7 |
2 |
| Ireland |
20,0 |
2 |
| Tây Ban Nha |
25,0 |
0 |
| Anh |
30,0 |
11 |
| Australia |
43,8 |
2 |
| Nhật |
54,5 |
5 |
| Canada |
38,5 |
4 |
| Mỹ |
66,7 |
51 |
Tuy rất khó xác định mối quan hệ nhân quả giữa tư nhân hoá và tính ưu việt của hệ thống đại học. Nguyên nhân chính lý giải cho sự phổ biến của các đại học công ở Tây Âu là những lý do chính trị nhằm kiếm phiếu bầu và những ngộ nhận về tính công bằng của hệ thống giáo dục và về những tác động ngoại sinh của hệ thống đại học.
Chỉ gần đây Châu Âu mới giật mình về sự lạc hậu của hệ thống đại học của mình so với Mỹ, Nhật Bản (về thứ bậc xếp hạng, về số công trình khoa học, về số người được giải Nobel, v.v... - những chỉ số đo sự ưu tú) và có những nghiên cứu kỹ hơn về tính hiệu quả và tính công bằng của hệ thống.
Phân tích về tính công bằng trong giáo dục đại học cho thấy giáo dục đại học công miễn phí cho mọi sinh viên là bất bình đẳng nhất. Vì sao? Vì theo số liệu thống kê ở tất cả các nước phát triển tỉ lệ con em nhà khá giả theo học đại học chiếm tỉ lệ cao và như thế miễn học phí nghĩa là lấy tiền thuế của mọi người để bao cấp cho tất cả sinh viên mà chủ yếu là sinh viên con nhà khá giả. Nói cách khác là lấy của người nghèo bù cho nhà giàu.
Vấn đề công bằng (tăng tỉ lệ con em có năng lực của các gia đình khó khăn để có thể theo học đại học) phải được giải quyết bằng các chính sách khác (thí dụ chủ yếu bằng đầu tư cho họ trong giáo dục phổ thông, cấp phiếu giáo dục (hay hơn cách cấp học bổng) hoặc/và bảo lãnh tín dụng cho con em các gia đình khó khăn) chứ không phải bằng miễn học phí cho tất cả. Khi đóng học phí sinh viên có động lực lớn hơn để học tốt hơn.
Như thế về phía cấp tài chính của nhà nước nên thông qua sinh viên (qua cấp phiếu giáo dục, phí bảo lãnh tín dụng sinh viên và cả tiền bảo lãnh nếu sinh viên không học xong hay sau khi ra trường mà thu nhập vẫn thấp hơn ngưỡng quy định), qua các ngân hàng thương mại (với sự bảo lãnh của nhà nước) là cách cấp tài chính hữu hiệu hơn cách cấp trực tiếp cho các trường.
Để cho sinh viên quyền tự chọn trường, khiến các trường phải cạnh tranh, để cho các trường đại học được tự trị (không chỉ tự chủ!) về các vấn đề quyết định chính nêu ở đầu bài. Nếu làm được thế thì các trường mà ta vẫn gọi là trường công sẽ cũng hoạt động như các trường tư phi vụ lợi mà chẳng cần phải "cổ phần hoá", vấn đề cốt lõi là ở sự cạnh tranh giữa các trường và ở cách cấp tài chính (từ ngân sách, từ học phí, từ tín dụng sinh viên, từ các khoản đóng góp từ thiện, v.v...). Bằng cách đó cả tính hiệu quả và tính công bằng sẽ được tăng cường.
Cho phép mở các trường đại học tư thục, thay đổi chính sách thuế (thí dụ các khoản đóng góp từ thiện được miễn thuế, miễn thuế cho các trường phi vụ lợi) có thể biến các trường tư thành các trường tư hoạt động phi vụ lợi, tổ chức (chưa chắc nhà nước đã nên trực tiếp) giám sát chất lượng, để các trường đại học được tự trị, khiến chúng phải cạnh tranh với nhau.
Thay đổi cách cấp tài chính cho các trường đại học (cả công và tư) theo cách thông qua phiếu giáo dục (và/hoặc và bảo lãnh tín dụng sinh viên) cấp cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, không phụ thuộc vào trường mà sinh viên đó học là trường công hay trường tư. Đó là những chính sách đúng đắn cả về phía cấp tài chính lẫn phía các nhà cung cấp dịch vụ (các trường) mà chúng ta nên theo đuổi.