
Nếu ta không biết trân trọng gìn giữ, mà cứ phũ phàng, thì sẽ đến lúc chẳng còn gì để mất. Trong sự đổ vỡ này, có những chuyện cười ra nước mắt.
Vừa hết giờ làm việc, tôi nhận được cú điện thoại của vợ thông báo: "Có bà bác ở quê ra chơi, trên đường về, tiện thể tạt qua phố Hàng Buồm, mua chim quay để đãi khách".
Tôi hí hửng làm theo và nghĩ rằng, bác mình sẽ hài lòng, vì có mấy đứa cháu ở thủ đô tiếp đón chu đáo. Nhưng vừa về đến cổng, thì thật bất ngờ, thấy có đến gần chục người lố nhố, vây quanh bác tôi, mỗi người nói một câu om sòm.
Chỗ tôi ở là một biệt thự xưa cũ. Ngôi nhà lúc đầu chỉ có 4 gia đình ở thuê, từ thời còn thuộc Pháp. Sau này sinh sôi nảy nở, thành ra có đến chục gia đình cùng sinh sống. Mọi biến cố vui buồn, cả số nhà đều biết, đều tham gia.
Tôi vừa dắt xe vào cổng thì đã thấy bác tôi, mặt cắt không còn hột máu, đứng giữa vòng vây người - cả lớn lẫn bé - mỗi người nói một câu như chợ vỡ. Cậu Hùng là người tốt bụng, nhưng thẳng tính, nhìn vào mặt bác tôi nói rõ to: "May mà công an họ không gô cổ bác lại".
Chết thật, bác tôi đã phạm tội gì? Những người vây quanh bác tôi, mỗi người một ý, tôi nghe không rõ chuyện gì, chỉ thấy những câu: "Sao mà dại dột thế". Khi nhìn thấy tôi, bác tôi khóc: "Cậu ơi... là cậu...".
Thấy bác khóc, tôi bảo: "Bác vào trong nhà, các anh chị vào trong nhà, sao lại đứng ở ngoài sân, có chuyện gì thế?". Bác tôi vẫn chưa hoàn hồn, chỉ tay sang nhà hàng xóm, nhưng chưa nói được gì. Tôi nhìn theo tay bác. Bên ấy là nhà ông T - một quan chức lớn cấp bộ. Mỗi nhà mỗi khác, chúng tôi chưa bao giờ bước chân sang bên ấy, chỉ thỉnh thoảng nhìn thấy ông được xe đưa đón đi làm.
Đợi cho bác tôi hoàn hồn, tôi mới lựa lời: "Bên ấy... làm sao... hả bác?". Bác tôi vẫn còn run lập cập: "Bác vừa ở quê ra... nhân thể... sang chơi... bên ấy". Tôi thật sự bất ngờ, vừa nhìn vợ vừa bảo: "Trời đất, sao em không... giữ bác lại?". Vợ tôi vội thanh minh: "Bác mới đặt cái bị cói xuống đất... thế rồi loáng cái... thấy biến đâu mất". Cậu Hùng nghe vậy, lại bồi thêm: "Thì "cụ" sang nhà ông T, có chết không cơ chứ, may mà công an...".
Bác tôi há mồm ra, chắc là vừa sợ, vừa ngạc nhiên, không hiểu tại sao Hà Nội lại cấm sang chơi nhà hàng xóm? Nhìn thấy bác, chân tay vẫn chưa hết run, tôi biết mình có lỗi. Thương quá. Bác là hiện thân của cả một lớp người thật thà, nhân hậu ở nông thôn, chẳng khác nào mẹ nhà thơ Lê Đình Cánh, khi bà ở quê ra Hà Nội thăm con: "Lên thang chẳng dám bước dài/ Vào khu tập thể gặp ai cũng chào". Nhìn nét mặt thảng thốt của bác, mà thấy chạnh lòng, tôi phải biến báo: "Hà Nội không có lệ... ở nhà quê ra... sang chơi hàng xóm".
Nói vậy, nhưng sao tôi thấy xót xa, tự mình lại vùi dập mình. Tôi cũng xuất thân từ một vùng quê chiêm trũng. Mỗi lần về quê là đi thăm hết họ hàng nội ngoại, bạn bè, hàng xóm, không thiếu một ai. Tình cảm ấy là cốt cách của làng, là báu vật từ xa xưa ông cha ta để lại. Tiếc là khi đô thị hóa, chúng ta đã để mất quá nhiều. Sẽ chẳng còn nữa, những chiếc cổng làng nhìn ra cánh đồng? Cũng chẳng còn nữa những rặng cúc tần, có dây mùng tơi leo lên, buông ngọn tua tủa. Thay vào đó, là những bức tường, chăng dây thép gai, cắm mảnh thủy tinh.
Tôi sợ nhất, rồi đây, tình người cũng dần phai nhạt, thủy chung cứ bị xói mòn, lòng tốt không còn neo đậu, con người cứ rời xa nhau mãi. Có những cái mất, chúng ta đành ngậm ngùi bó tay. Nhưng những gì làm được, thì chúng ta phải chung tay níu giữ. Tại sao cứ phũ phàng? Hay là đô thị hóa làm cho con người chai sạn? Dẫu sống ở thành phố, nhưng xin đừng bội bạc với làng, đừng phụ với người nhà quê. Tội nghiệp!