Kỹ thuật trưởng thành từ trứng non trong ống nghiệm (invitro maturation - IVM) là kỹ thuật nuôi trứng non đến giai đoạn trưởng thành trong môi trường "in vitro", sau đó trứng sẽ được thụ tinh và nuôi cấy như các trường hợp thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) thông thường. Còn với những trường hợp hiếm muộn không phải do trứng mà do tinh trùng, thì kỹ thuật nuôi cấy tinh tử lại là một chiếc "phao cứu sinh" kỳ diệu của khoa học.
Cả hai kỹ thuật này đang được đánh giá cao trên thế giới, có thể đem lại thành công cho cả những trường hợp hiếm muộn mà nếu chỉ dùng kỹ thuật TTTON thì sẽ "bó tay".
>> Những em bé đầu tiên ra đời bằng nuôi cấy tinh tử
>> "VN nằm trong số năm quốc gia đi đầu về kỹ thuật IVM"
Kỹ thuật nuôi trứng non trong ống nghiệm
Từ năm 2007 đến nay, VN đã có hơn 50 trường hợp áp dụng thành công kỹ thuật nuôi trứng non trong ống nghiệm (IVM).
Niềm vui muộn mằn
Những ngày cuối tháng 12.2008, vợ chồng chị L.P.T.B (32 tuổi, trú tại Q.10, TPHCM) ngỡ ngàng vui sướng đón đứa con đầu tiên của mình chào đời. Vợ chồng chị lấy nhau đã nhiều năm mà vẫn không có con, khi đi khám bệnh mới phát hiện ra cả hai vợ chồng đều "có vấn đề" - Chị bị hội chứng buồng trứng đa nang, chồng lại không có tinh trùng. Chạy vạy khắp nơi, vợ chồng chị quyết định đến BV Từ Dũ thử vận may bằng cách TTTON. Các bác sĩ tiến hành kiểm tra và tiến hành các xét nghiệm cho cả hai người. Sau đó, người chồng được mổ lấy tinh trùng còn chị được kích thích buồng trứng và tiến hành TTTON.
Lần đó, vận may chưa mỉm cười với vợ chồng chị T.B, chị còn bị biến chứng quá khích buồng trứng. Nghe thông tin có kỹ thuật lấy trứng non nuôi trưởng thành ở Vạn Hạnh, vợ chồng chị lại quyết định một lần nữa thử vận may. Tháng 4.2008, các bác sĩ tiến hành mổ lấy tinh trùng và chọc hút trứng non để làm IVM. Kết quả thật tuyệt vời - chị được đơn thai và một cháu bé kháu khỉnh ra đời sau đó.
Trước đó, chị M.N.B. (29 tuổi, ngụ tại TPHCM) cũng rơi vào trường hợp tương tự. Chị đã hiếm muộn 3 năm và được chẩn đoán do hội chứng buồng trứng đa nang gây không rụng trứng. Chị đã được điều trị bằng cách kích thích buồng trứng bằng thuốc để gây rụng trứng nhưng lại thất bại do buồng trứng đáp ứng quá mức. Sau đó, chị đã quyết định thử phương pháp IVM.
Chị được theo dõi buồng trứng và bác sĩ tiến hành chọc hút trứng non. Kết quả, 15 trứng non thu được. Sau khi nuôi cấy 28 giờ, có 12 trứng trưởng thành, rồi 8 trứng thụ tinh, sau đó 7 trứng phát triển thành phôi. Chị B. được cấy phôi vào buồng tử cung và kết quả thử máu sau 2 tuần cho thấy có thai dương tính. Chị được siêu âm và xác định có một song thai trong buồng tử cung...
Kỹ thuật ưu việt
Trong khoảng 30 năm trở lại đây, để gia tăng cơ hội thành công cho một chu kỳ điều trị, kích thích buồng trứng được áp dụng một cách phổ biến, nhằm mục đích tăng số lượng nang noãn được chiêu mộ, tăng số trứng chọc hút và số phôi hình thành.
Vai trò của kích thích buồng trứng ngày càng trở nên quan trọng, với nhiều phác đồ và nhiều loại thuốc được sử dụng khác nhau. Tuy nhiên, việc kích thích buồng trứng cũng có những nguy cơ nhất định, nhất là hội chứng quá khích buồng trứng. Đây là tình trạng buồng trứng đáp ứng quá mức với thuốc kích thích, biểu hiện nhiều ở mức độ khác nhau và có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng của người mẹ và gia tăng phí điều trị.
Tình trạng này thường gặp ở những bệnh nhân có hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS), do có sự hiện diện của nhiều nang thứ cấp. Tuy nhiên, kỹ thuật mới IVM xuất hiện như một ngả rẽ mới với đầy tính ưu việt cho những cặp vợ chồng hiếm muộn.
Bác sĩ Đặng Quang Vinh - phụ trách kỹ thuật TTTON (IVF) của BV Vạn Hạnh - cho biết: "Trứng được chọc hút ở giai đoạn còn non và được nuôi cấy trong các môi trường chuyên biệt cho đến khi hoàn toàn trưởng thành. Các giai đoạn tiếp sau đó như tạo phôi, nuôi cấy phôi diễn ra như một chu kỳ TTTON thông thường.
Bác sĩ Vương Thị Ngọc Lan - ĐH Y dược TPHCM - cho biết: "Trước đây, để thu được trứng, các bác sĩ phải sử dụng rất nhiều nội tiết tố để tiêm cho người phụ nữ trong thời gian dài (thường là 4 tuần) để giúp các nang noãn phát triển. Phác đồ kích thích buồng trứng này là nguyên nhân dẫn đến các nhược điểm chính của TTTON. Buồng trứng nhiều khi bị quá khích dẫn đến thất bại. Trong kỹ thuật IVM, kích thích buồng trứng là hoàn toàn không cần thiết hay chỉ cần kích thích nhẹ (priming) với liều thấp và trong thời gian ngắn. Do đó, nguy cơ quá khích buồng trứng hoàn toàn không xảy ra.
Xét về mặt cơ bản, kỹ thuật này can thiệp vào khâu đầu tiên của quy trình TTTON, đó là thu được trứng để làm TTTON. Trước đây, thay vì phải tiêm thật nhiều thuốc vào cơ thể người phụ nữ để giúp trứng phát triển và trưởng thành thì hiện nay, với kỹ thuật IVM, các bác sĩ tiến hành lấy trứng từ các nang nhỏ ở buồng trứng và nuôi cấy giúp trứng tự trưởng thành trong môi trường bên ngoài cơ thể mà không cần phải kích thích buồng trứng và theo dõi việc kích thích buồng trứng".
Thu nhập thấp, vẫn có cơ hội
Theo thống kê, tại VN, kỹ thuật TTTON đã được triển khai thành công từ năm 1997, đến nay, cả nước đã có 10 trung tâm TTTON được thành lập với số chu kỳ điều trị khoảng 3.000-3.500 trường hợp/năm. Số trường hợp bệnh nhân có hội chứng buồng trứng đa nang chiếm khoảng 35%. Những bệnh nhân này thuộc nhóm nguy cơ cao bị quá khích buồng trứng nếu kích thích buồng trứng ngay cả với những chuyên gia giàu kinh nghiệm nhất.
Có những trường hợp quá khích buồng trứng xảy ra muộn, để đảm bảo tính mạng và sức khoẻ cho người mẹ, buộc lòng phải phá thai. Bên cạnh đó, khoảng 2/3 chi phí điều trị TTTON là do việc kích thích buồng trứng (dùng thuốc), đây là một gánh nặng lớn cho bệnh nhân trong thời điểm giá thuốc đang tăng chóng mặt.
GS BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng - Chủ tịch Hội Nội tiết sinh sản và vô sinh TPHCM (HOSREM) - chuyên gia trong lĩnh vực TTTON - cho biết, VN đã thực hiện thành công kỹ thuật này ngay trong ca đầu tiên. Tháng 5.2007, hai em bé đầu tiên (sinh đôi) của kỹ thuật IVM tại VN ra đời và đến nay tỉ lệ thành công IVM khá cao đã cho thấy VN đang từng bước theo kịp những kỹ thuật hiện đại của thế giới".
Cũng theo thống kê của HOSREM, tính đến tháng 12.2008, khoảng 50 trường hợp can thiệp kỹ thuật IVM đã có thai, trong đó có trên 10 trường hợp song thai và 1 trường hợp tam thai (đã được giảm thai an toàn). Ngoài ra, có 21,9% trường hợp có phôi dư để trữ sau chuyển phôi.
|
Kỹ thuật IVM Thụ tinh ống nghiệm cổ điển
Chi phí thấp (20-25 triệu đồng/ca).
Chi phí cao (trung bình 40-50 triệu đồng/ca).Thời gian điều trị khoảng 7-10 ngày.Thời gian điều trị kéo dài trên 4 tuần.Thuận tiện (ít tiêm thuốc, siêu âm ít lần, không cần xét nghiệm theo dõi).
Bất tiện cho bệnh nhân (đi lại, tiêm thuốc, siêu âm, xét nghiệm, chí phí lưu trú...).Tác dụng phụ không có hoặc không đáng kể. Tác dụng phụ nhiều do sử dụng thuốc kích thích buồng trứng. |